NHỮNG CÂU CHUYỆN KỲ LẠ CỦA
DARREN SHAN
GÁNH XIẾC QUÁI DỊ
CIRQUE DU FREAK
Aliving nightmare...
Mở đầu
Tôi mê mấy con nhện chết được. Tôi thích sưu tầm nhện từ ngày còn nhỏ xíu. Tôi sục sạo hàng
giờ trong cái chòi cũ cuối vườn nhà, để săn tìm những con vật tám chân, thuộc loài côn trùng ăn thịt
này. Tóm được tên nào, tôi đem thả ngay vào phòng ngủ. Chuyện này thường làm mẹ tôi tức điên
lên.
Thường thường, chỉ một hai ngày là những tên này chuồn thẳng cánh, chẳng bao giờ “gặp gỡ” lại
nữa. Nhưng thỉnh thoảng có vài tên luẩn quẩn trong phòng ngủ của tôi lâu hơn. Có một cô nhện
giăng tơ phía trên giường tôi, đóng đô tại đó như một tên lính gác, gần một tháng trời. Đi ngủ, tôi
mơ màng tưởng tượng cô ả mon men xuống, bò vào miệng, trượt qua cổ họng để vào bụng tôi và
đẻ ra một đống trứng. Những em bé nhện sẽ nở ra và nhấm nháp ngon lành nội tạng tôi, trong khi
tôi vẫn sống sờ sờ.
Ngày còn bé tôi… “khoái được sợ” lắm.
Năm lên chín tuổi, ba má cho tôi một con tarantula nhỏ. Đó là một giống nhện miền nam châu Âu
đen thui thủi, vừa to con vừa có nọc độc. Con tarantula của tôi không to, không có nọc độc, nhưng
đó là món quà tuyệt vời tôi chưa bao giờ được nhận. Gần như suốt ngày, thức dậy là tôi chơi đùa
với nó. Tôi phục vụ tối đa: ruồi, châu chấu và những con giun nhỏ tí teo. Đồ ăn thừa mứa đến thối
rữa luôn.
Thế rồi, một hôm, tôi đã làm một chuyện thật ngu ngốc. Xem một phim hoạt hình có cảnh máy hút bụi nuốt chửng một nhân vật trong phim. Cậu ta chẳng hề hấn gì, vùng vẫy thoát ra ngay, chỉ bị lấm lem và nổi quạu lên một cách rất buồn cười.
Cảnh đó ngộ nghĩnh tới nỗi làm tôi muốn thí nghiệm ngay với con nhện của tôi.
Không cần phải nói, các bạn cũng biết chuyện xảy ra chẳng giống trong phim hoạt hình tí nào. Con
tarantula của tôi bị xé ra từng mảnh. Tôi khóc quá trời, nhưng nước mắt có thay đổi được gì nữa
đâu. Vì lỗi của tôi, con vật cưng của tôi đã chết. Tôi bị mắng là vừa ngốc vừa vô trách nhiệm, và từ
đó ba má không cho tôi nuôi một con thú cưng nào nữa, dù chỉ là một con nhện vớ vẩn trong vườn.
Tôi kể lại chuyện đó vì hai lý do. Lý do thứ nhất, để khi bạn đọc sách này, sẽ dễ hiểu hơn. Lý do
thứ hai:
Đây là một câu chuyện thật.
Tôi không mong bạn tin đâu - chính tôi cũng không thể tin, nếu tôi chưa từng sống qua chuyện này. Nhưng đây là một chuyện có thật. Tất cả những gì tôi tả trong sách đều xảy ra đúng y như những gì tôi đã trải qua.
Chuyện xảy ra trong đời thật, là khi bạn làm một điều gì ngốc nghếch, đương nhiên bạn phải trả giá. Nhưng trong sách, những người hùng, nếu thích, họ phạm sai lầm tùm lum, mà vẫn chẳng sao, vì cuối chuyện mọi thứ đều tốt đẹp. Người hùng đấm đá tụi xấu tưng bừng, lập lại trật tự đâu vào đấy và tất cả đều kết thúc… như mơ.
Trong đời thật: máy hút bụi giết chết con nhện; lớ ngớ băng qua đoạn đường đầy xe cộ là người ta bị xe tông ngay; lộn cổ từ trên cây xuống, chẳng vỡ đầu cũng gãy tay.
Đời thật, độc ác và tàn nhẫn vậy đó. Nó chẳng thèm quan tâm tới người hùng hay những kết cục có hậu đâu. Trong đời thật: chuyện xấu xảy ra. Người chết. Những cuộc tranh đấu thường thất bại. Kẻ ác thường thắng thế.
Tôi muốn nói rõ ràng như vậy, trước khi bắt đầu kể chuyện.
Còn một điều nữa: thật sự tên tôi không phải là Darren Shan đâu. Trong sách này, tất cả đều là sự
thật, trừ những cái tên. Tôi phải thay đổi tên, là vì… Thôi, bạn cứ đọc tới hồi kết cuộc, bạn sẽ
hiểu.
Tôi không sử dụng bất cứ tên thật nào của tôi, em gái, bạn bè và các thầy giáo tôi. Không ai được
nhắc tới bằng tên thật. Tôi cũng sẽ không cho bạn biết tên thành phố của tôi đâu. Tôi không dám.
Dù sao mào đầu như thế cũng đủ rồi. Nếu bạn đã sẵn sàng, hãy bắt đầu đọc đi.
Nếu đây là một chuyện bịa đặt, nó sẽ được bắt đầu vào một đêm tối giông bão đầy trời với tiếng cú rúc và tiếng xào xạc dưới gầm giường. Nhưng đây là một chuyện thật, nên tôi sẽ bắt đầu tại nơi thật sự nó đã xảy ra.
Chuyện bắt đầu từ trong một phòng vệ sinh.
CHƯƠNG MỘT
Tôi ngồi trong phòng vệ sinh của trường. Vẫn mặc nguyên quần, tôi ngồi trên bồn cầu, ư ử trong
họng một bài ca. Chẳng là gần hết giờ Anh văn, tôi cảm thấy khó chịu. Thầy tôi, thầy Dalton,
thông minh cực kỳ trong những hoàn cảnh như thế này. Tên nào giả bộ đau ốm là đừng hòng qua
được mắt thầy. Vừa thoáng thấy tôi giơ tay, thầy bảo ngay là tôi bị bệnh rồi. Thầy nói:
- Darren, vào phòng vệ sinh, nôn hết ra cho bớt khó chịu, rồi trở lại lớp ngay. Ước gì thầy nào cũng thông cảm như thầy Dalton nhỉ.
Tôi không bị ói mửa, nhưng vẫn cảm thấy nôn nao, nên cứ ngồi lì trong phòng vệ sinh. Nghe tiếng chuông và tiếng xôn xao cười nói của các bạn ùa ra sân trong giờ ra chơi, tôi muốn chạy ra ngay,
nhưng lại sợ thầy Dalton sẽ bắt gặp, sẽ nghi ngờ tôi giả bệnh. Nếu phát hiện tay nào dối gạt, thầy không la mắng giận dữ đâu, nhưng cứ lầm lì im lặng… cả thế kỷ. Chúng tối khiếp thái độ đó của thầy còn hơn bị la rầy.
Vì vậy tôi cứ ư ử hát, ngó đồng hồ và chờ đợi. Rồi tôi nghe tiếng gọi tên tôi:
- Ê, Darren, cậu bị ngất hay sao vậy?
Tôi cười. Đúng là Steve Leopard, thằng bạn thân nhất của tôi. Thật ra họ của nó là Leonard chứ không phải Leopard. Nhưng mọi người đều gọi nó là Leopard, vì leopard nghĩa là con báo mà. Nó có được mỹ danh đó không chỉ vì hai từ đọc từa tựa nhau, mà còn vì, như kiểu má tôi nói, nó đúng là một “đứa trẻ hoang dã”. Nó đến đâu là có chuyện đó, nhào vào những cuộc đập lộn, nhám tay trong các cửa hàng. Ngày còn ngồi trên xe đẩy, chẳng biết vớ đâu một que nhọn, nó lụi một nhát vào một bà vô tình đi qua chiếc xe.
Nó có mặt tại đâu cũng làm mọi người e ngại. Nhưng tôi thì không. Chúng tôi kết nhau từ buổi gặp
đầu tiên. Má bảo tôi bị bản tính hoang dã của nó hấp dẫn, nhưng tôi chỉ nghĩ nó là một thằng bạn
rất tuyệt. Nó nóng như lửa, khi lên cơn, nó nổi quạu phát sợ. Những lúc đó tôi chỉ đơn giản co giò chuồn ngay, đợi khi nó êm êm, tôi mới trở lại.
Nhưng “tiếng tăm phát khùng” của Steve cũng dịu dần - má nó đưa đến những nhà tâm lý để các ông ấy hướng dẫn Steve cách tự kiểm soát mình - tuy nhiên nó vẫn là một “huyền thoại” trong sân trường - một đứa không dễ bắt nạt - kể cả những tay lớp trên, to lớn hơn nó.
Tôi gọi ra:
- Ê, Steve, tớ ở đây này.
Tôi đấm cửa để nó biết phòng tôi đang ngồi. Nó chạy lại mở cửa. Nhìn tôi vẫn mặc quần, ngồi trên bồn cầu, nó toét miệng cười:
- Mày bị ói mửa à?
- Không.
- Ra ngoài chứ?
- Có thể.
Tôi ưỡn người, “bủm” một phát. Nhưng thằng Steve biết ngay là tôi giả bộ. Nó bảo:
- Cậu ngồi ì ra đó làm gì, đánh giày giúp tớ còn có lý hơn.
Nó hô hố cười khi tôi giả bộ tè lên giày nó, lấy giấy vệ sinh để chùi. Tôi hỏi:
- Cậu làm bài tập lịch sử chưa?
- Mai mới phải nộp bài, đúng không?
Nó có vẻ lo lắng. Steve… hơi bị hay quên làm bài tập ở nhà. Tôi bảo:
- Ngày mốt.
- Ồ, càng tốt. Thế mà tớ đã lo… Nhưng này, hôm nay là thứ năm, ngày mốt là…
- Đúng rồi, ngốc ơi. Ngày mốt thứ bẩy, là ngày nghỉ rồi.
Tôi thụi một quả vào vai nó. Steve hét toáng lên:
- Ui, đau mày. Ra ngoài không?
Vừa hỏi, nó vừa xuýt xoa, nhưng tôi biết nó chẳng đau tí nào.
- Tớ khoái ngồi đây… ngắm cảnh.
- Quên đi. Lúc tớ vào đây, bên mình đã bị hạ 1-5. Lúc này chắc thủng lưới thêm mấy quả nữa rồi.Tụi mình rất cần có cậu.
Nó đang nói về chuyện bóng đá đấy. Chúng tôi thường đấu một hiệp trong giờ nghỉ ăn trưa. Đội của tôi luôn thắng, nhưng chúng tôi đã mất khá nhiều cầu thủ giỏi. Dave Morgan bị gãy chân. Sam White chuyển trường theo gia đình. Còn thằng Danny Curtain bỏ quả bóng, để lẽo đẽo theo con nhỏ Sheila Leigh suốt giờ nghỉ trưa. Thằng ngốc!
Tôi là một tiền đạo xuất sắc nhất. Các hậu vệ và trung vệ đều rất tốt, còn thằng Tommy là thủ môn số một của trường. Nhưng chỉ có tôi là mũi nhọn tấn công và là đứa có thể làm bàn bốn hoặc năm quả vào lưới đối phương trong một ngày.
Tôi đứng dậy:
- OK. Tớ sẽ cứu các cậu. Tuần này, mỗi ngày tớ làm một cú hat trick rồi, bỏ chi cho uổng.
Chúng tôi đi qua mấy tay lớp trên - các ông anh lớn đang xúm quanh bồn rửa mặt, phì phèo thuốc lá như thường lệ - tiến tới tủ áo, thay đồ ra sân. Tôi có đôi giày rất tuyệt, một phần thưởng trong kỳ thi văn. Nhưng giây giày đã mục, cao su rã ra gần hết và… bây giờ chân tôi lại to đùng hơn trước. Đôi giày tôi hiện có cũng tạm được, tuy không bằng đôi lãnh thưởng.
Khi tôi ra sân, đội tôi đã thua 3-8. Vừa chạy tôi vừa la lớn:
- Ê, Shan-làm-bàn đã có mặt đây.
Trên sân, tiếng cười và tiếng rên rẩm cùng nổi lên. Nhưng rõ ràng các cầu thủ phe ta tươi tỉnh hẳn, còn phe địch nhăn nhó như khỉ ăn gừng.
Tôi khởi đầu tuyệt vời và chỉ trong vòng một phút ghi luôn hai bàn. Tình hình này rất có thể gỡ hòa
hay thắng. Nhưng ngay lúc trận chiến đang sôi nổi nhất, chuông vào lớp đã rung lên. Bên tôi thua 7-
9.
Chúng tôi đang rời sân, thằng Alan Morris chạy tới, mặt đỏ bừng, thở hồng hộc. Ba bạn thân nhất của tôi là: Steve Leopard (Báo), Tommy Jones và Alan Morris. Trong bốn chúng tôi, chỉ riêng thằng Steve là có biệt danh “Steve báo”.
Vừa quơ quơ mảnh giấy ướt tèm nhẹp, Alan vừa la lớn:
- Nhìn xem tớ vớ được cái gì đây?
Tommy ráng chụp mảnh giấy, hỏi:
- Cái gì vậy?
- Đây là…
Alan bỗng nín bặt khi nghe thầy Dalton gào lớn:
- Bốn em kia. Vào lớp ngay.
- Chúng em vào ngay đây.
Thằng Steve gào lại. Nó là trò cưng của thầy Dalton. Nó làm những trò mà chúng tôi chẳng bao giờ
dám. Vậy mà vẫn được thầy bỏ qua. Nếu chúng tôi “lếu láo” như nó, là bị đá ra khỏi lớp liền.
Nhưng thầy Dalton rất nhẹ nhàng với nó, vì nó là một ngoại lệ. Trong lớp, có khi nó rất thông
minh, bài vở nào cũng trả lời trót lọt, nhưng nhiều lúc nó mù tịt, không biết đánh vần đến cả chính tên của nó. Thầy Daltgon bảo nó có một chút của một học giả ngu ngơ, chắc thầy định bảo nó là một… thiên tài ngốc nghếch.
Tuy nhiên, dù nó là một trò cưng của thầy, Steve vẫn phải vào lớp đúng giờ cùng mọi người. Vì vậy, chẳng biết Alan vớ được cái gì, chúng tôi vẫn phải chạy vào lớp. Mồ hôi còn nhễ nhại sau cuộc chơi, chúng tôi bắt đầu bài học.
Tôi đâu ngờ, mảnh giấy bí mật của thằng Alan sẽ mãi mãi làm thay đổi đời tôi. Thay đổi một cách
tệ hại!
CHƯƠNG HAI
Sau bữa ăn trưa chúng tôi lại có thêm một tiết với thầy Dalton: môn Lịch sử. Chúng tôi đang học về Thế chiến thứ Hai. Tôi không tha thiết lắm với bài học này, nhưng thằng Steve thì mê tít. Nó khoái tuốt tuột những gì dính dáng tới đánh đấm, bắn giết, chiến tranh. Nó vẫn bảo, lớn lên nó khoái
được làm lính đánh thuê, nghĩa là lính đánh nhau vì tiền. Nó nói thật đấy.
Sau giờ sử là giờ học toán, nhưng thật không thể nào tin nổi, thầy Dalton dạy luôn tiết ba này! Thầy toán của chúng tôi nghỉ bệnh, nên phải có thầy khác dạy thế.
Thằng Steve sướng như rồng gặp mây. Thầy yêu quý của nó dạy liền tù tì cả ba tiết. Lần đầu tiên
chúng tôi được thầy Dalton dạy toán. Thế là thằng Steve có dịp biểu diễn. Nó cho thầy biết chúng
tôi đã học tới trang nào trong sách, nó cắt nghĩa những bài toán rắc rối, nó nói với thầy cứ như nói
chuyện với một đứa trẻ. Nhưng thầy không quan tâm, thầy đã quen với tính nết nó và biết cách cư
xử với nó.
Thường khi, thầy Dalton là một thuyền trưởng đại tài - lớp của thầy vui nhộn, nhưng ra khỏi lớp là chúng tôi biết mình đã học hỏi được nhiều điều. Nhưng về môn toán thầy lại không là một thầy giỏi. Thằng Steve sát cánh bên thầy, làm “cố vấn”. Thế là cả lớp chúng tối bắt đầu thì thầm
chuyện trò đùa giỡn và ném những mẩu giấy cho nhau.
Tôi ném mẩu giấy, yêu cầu Alan cho đọc tờ giấy bí mật của nó. Lúc đầu nó từ chối chuyền tay qua
mấy bạn khác, tôi liên tục “bắn tin” xuống chỗ nó. Sau cùng nó mới chịu chuyền qua Tommy, ngồi
trước nó hai hàng ghế. Tommy chăm chú đọc. Miệng nó từ từ há hốc, mặt sáng lên. Ít nhất nó đọc
tới ba lần mới chịu chuyền cho tôi. Lập tức tôi hiểu ngay phản ứng của Tommy khi đọc tờ giấy.
Đó là một tờ bướm, quảng cáo của một gánh xiếc rong. Trên cùng là hình ảnh một cái đầu chó sói, mõm mở to, nước bọt nhễu nhão chảy qua kẽ răng. Dưới cùng là hình ảnh một con nhện và một con rắn trông cũng gớm ghiếc như đầu con sói.
Ngay dưới đầu sói là những chữ in to, màu đỏ.
GÁNH XIẾC QUÁI DỊ
Dưới hàng chữ đó là những hàng chữ nhỏ hơn:
Gánh Xiếc Quái Dị - Chỉ trình diễn một tuần!
Hãy tới thưởng thức:
Cặp chị em sinh đôi Sive và Seersa
Cậu bé rắn! Người-sói! Gertha Răng-thép!
Larten Crepsley và con nhện bạn diễn của ông: Quý bà Octa!
Alexander Xương sườn! Người Đàn Bà Có Râu! Hans Tay-thần!
Rhamus Hai-bụng:
Người Đàn Ông Mập Nhất Thế Giới!
Sau cùng là địa chỉ mua vé và nơi trình diễn.
Trên hình ảnh con rắn và con nhện có hàng chữ:
KHÔNG DÀNH CHO NGƯỜI YẾU TIM! NHỚ GIỮ CHỖ TRƯỚC!
Đọc đi đọc lại, tôi chìm đắm vào những hình ảnh và lời quảng cáo, chẳng còn nghĩ gì tới thầy giáo, đến khi nhận ra cả lớp im phăng phắc, tôi mới nhớ ra, vội ngẩng đầu lên nhìn: thằng Steve một mình đứng trên đầu lớp, đang nham nhở thè lưỡi cười với tôi. Rởn cả tóc gáy, vội quay lại, tôi thấy thầy Dalton đang đứng sau tôi, môi mím chặt, mắt đọc tờ quảng cáo.
Giật tờ giấy khỏi tay tôi, thầy nghiêm khắc hỏi:
- Cái gì thế này?
- Dạ… một tờ quảng cáo ạ.
- Em lấy ở đâu? Ở đâu?
Chưa bao giờ tôi thấy thầy tức giận đến thế. Tôi bối rối liếm môi, không biết trả lời sao, vì thật tình không muốn thằng Alan vướng vào vụ này. Bạn bè đều biết nó là đứa chết nhát nhất thế giới. Rất may, Steve tiến lại, nói:
- Thưa thầy của em ạ.
- Của em?
- Dạ, em nhặt được gần trạm xe buýt. Có một ông già ném tờ giấy này đi. Thấy là lạ, định hết giờ học, em sẽ hỏi thầy đây là cái gì.
- À… thế thì được. Tính hiếu kỳ không có gì đáng trách. Em ngồi xuống, Steve.
Phết chút hồ rồi gián tờ giấy lên bảng, vỗ vỗ tờ quảng cáo, thầy nói:
- Trước kia, lâu lắm rồi, thật sự vẫn có những màn trình diễn quái đản. Những kẻ tham lam, lường gạt đã nhồi nhét những người dị dạng trong những cái lồng và…
- Thưa thầy dị dạng là sao ạ?
Một bạn lên tiếng hỏi. Thầy trả lời:
- Là những người trông không bình thường. Chẳng hạn như một người ba tay hay hai mũi; hoặc
người không có chân; người quá lùn, hay người cao quá khổ. Những kẻ lừa đảo đưa những con
người khốn khổ đó ra trình diễn và gọi họ là quái nhân - đó là những con người không khác gì thầy hay các em, trừ ngoại hình của họ. Những kẻ tham lam, độc ác móc túi thiên hạ bằng cách đó.
Chúng còn mời gọi khán giả chế giễu, chọc ghẹo những con người tội nghiệp kia. Chúng thí cho họ một tí tiền, cho họ ăn đói, mặc rách và không bao giờ cho phép họ được tắm rửa.
Deleina Price, một bạn gái ngồi gần đầu lớp hét toáng lên:
- Như thế là tàn nhẫn.
- Đúng vậy. Những buổi trình diễn quái đản đó là tàn nhẫn, độc ác. Đó là lý do làm thầy tức giận khi trông thấy mảnh giấy này.
Thầy giật tờ quảng cáo khỏi bảng, nói tiếp:
- Chúng đã bị cấm từ nhiều năm trước, nhưng thỉnh thoảng người ta vẫn nghe đồn, những cuộc trình diễn như thế vẫn còn tiếp tục sống mạnh.
- Thưa thầy, thầy có nghĩ gánh xiếc quái dị này thật sự giống như thế không ạ?
- Thầy không chắc. Có thể là một trò quảng cáo bịp thôi. Tuy nhiên, dù đó là một gánh xiếc với
những con người dị dạng thật, thầy mong tất cả chúng ta sẽ không em nào có ý muốn đi xem.
Cả lớp nhao nhao:
- Dạ, không có đâu thầy.
Thầy lại nói:
- Tốt. Vì đó là nơi đầy khiếp đảm. Chúng giả dạng như một gánh xiếc bình thường, nhưng thật sự
là nơi chất chồng tội ác. Người nào tới đó một lần cũng sẽ trở nên xấu xa như những kẻ điều hành
gánh xiếc.
Steve nhiệt tình đồng ý:
- Chỉ kẻ nào điên mới tò mò tới đó, thầy nhỉ.
Nói xong, nó nháy mắt với tôi, miệng uốn éo mấy câu không thành tiếng:
- Tụi mình sẽ đi!
CHƯƠNG BA
Steve năn nỉ thầy Dalton cho nó giữ tờ quảng cáo. Nó bảo muốn dán lên tường phòng ngủ. Thầy trù trừ, rồi cắt bỏ địa chỉ cuối tờ giấy, trước khi trao cho nó.
Tan trường, bốn đứa chúng tôi - Steve, Alan Morris, Tommy Jones và tôi - tụ tập ngoài sân, ngắm
nghía tờ quảng cáo. Tôi bảo:
- Chắc là bịp quá.
Thằng Alan láu táu hỏi:
- Sao cậu biết?
- Thầy nói đó, những trò trình diễn người sói, người rắn đã bị cấm từ lâu rồi.
Alan vẫn khăng khăng:
- Thật đấy, không bịp đâu.
Tommy hỏi nó:
- Cậu lấy tờ giấy này ở đâu?
- Mình… chôm. Của anh Hai mình.
Anh Hai thằng Alan là Tony Morris, trước khi bị đuổi học, anh ta to lớn nhất trường. To lớn, nhỏ nhen và xấu xí nữa.
Tôi hết hồn, hỏi dồn:
- Mày chôm của Tony. Bộ mày muốn chết rồi à?
- Anh ấy không biết tớ lấy đâu. Nó nằm trong túi quần, lúc má mình ném nó vào máy giặt. Mình
nhét một mảnh giấy trắng khác vào túi quần anh ấy. Tony sẽ tưởng chữ mực bị tẩy hết ráo rồi.
Steve gật gù:
- Thằng lù đù này hơi bị khôn đấy.
Tôi hỏi:
- Nhưng ai đưa cho anh Tony?
- Một người gặp ngoài đường. Một ông tên là Crepsley, diễn viên gánh xiếc.
- Cái ông trình diễn với con nhện hả?
- Ừa, nhưng lúc đó ông ta không mang theo con nhện. Ban đêm mà, anh Tony vừa từ quán rượu về.
Anh nó chưa đủ tuổi được mua rượu, nhưng bám theo mấy gã lớn tuổi, nhờ mua.
Alan nói tiếp:
- Ông Crepsley đưa tờ bướm cho anh Tony, bảo đây là Gánh Xiếc Quái Dị, bí mật trình diễn tại các thành phố trên khắp thế giới. Ông ấy bảo phải có tờ bướm mới mua được vé và họ chỉ phát tờ bướm này cho những người được tin cẩn. Tuyệt đối không được tiết lộ với ai. Mình biết được là vì khi xỉn rồi, anh Tony chẳng giữ điều gì bí mật cả.
Steve hỏi:
- Giá vé bao nhiêu.
- Mười lăm bảng một vé.
- Mười lăm bảng?
Tất cả chúng tôi đều kêu lên. Steve càu nhàu:
- Chẳng ma nào thèm bỏ ra 15 bảng để xem một lũ người quái dị đâu.
- Có tớ.
Tôi nói. Tommy và Alan cũng đều lên tiếng:
- Tớ nữa.
- Tớ cũng mua.
Thằng Steve khủng khỉnh:
- Chắc rồi. Nói cho sướng miệng mà.
- Là sao?
Alan ngần ngơ hỏi. Thằng Steve thủng thỉnh cắt nghĩa:
- Nghĩa là cóc có tiền mua vé, nói cho đỡ thèm thôi.
Mặt thằng Tommy rầu rầu như đám ma, vừa ngắm nghía mấy hình ảnh vừa lẩm bẩm:
- Có vẻ hay lắm, mình rất muốn đi xem.
- Thầy Dalton lại thấy là chẳng hay ho gì đâu.
Nghe Alan nói, Tommy bảo:
- Vì vậy mình mới khoái đi. Cái gì người lớn chê, thường là hơi bị tuyệt đấy.
Tôi hỏi:
- Các cậu chắc là tụi mình không đủ tiền sao? Biết đâu người ta giảm giá cho trẻ em.
- Tớ nghĩ trẻ con không được vào xem đâu.
Tuy nói vậy, nhưng Alan cũng cho biết là nó có năm bảng bẩy mươi pence. Steve nói:
- Tớ có đúng 12 bảng.
Tommy cho biết nó có 6 bảng 85 pence. Tôi nói với tất cả:
- Tớ có 8 bảng 25 pence. Vậy là tổng cộng được hơn 30 bảng rồi. Ngày mai chúng ta lấy tiền
quà…
Alan cắt ngang:
- Nhưng gần hết vé rồi. Hôm qua là buổi biểu diễn đầu tiên. Họ hết diễn vào thứ ba. Nếu muốn đi, chúng ta phải đi tốii mai hay thứ bảy, vì ông bà già sẽ không cho chúng mình ra ngoài mấy tối khác đâu. Người phát tờ bướm cho anh Tony bảo, vé tối thứ sáu và thứ bảy gần hết rồi. Chúng ta phải mua ngay từ tối nay.
- Căng nhỉ!
Nghe tôi nói, Steve bảo:
- Có lẽ chẳng căng lắm đâu. Má mình thường để tiền trong một cái bình. Mình có thể mượn đỡ, khi nào có tiền quà tụi mình trả lại.
- Cậu định chôm tiền của bà già à?
Tôi hỏi. Nó bộp lại ngay:
- Tớ nói là mượn. Ăn trộm là khi nào cậu không có ý trả lại kìa. Sao cậu chậm tiêu thế nhỉ.
Tommy hỏi:
- Nhưng làm sao đi mua vé được. Hôm nay có tiết học tối.
Thằng Steve nói ngay:
- Để tớ mua cho. Tớ chuồn ra được mà.
Tôi nhắc:
- Nhưng thầy Dalton xé mất địa chỉ rồi.
Nó cười toe:
- Mình nhớ. Nào, bây giờ cứ đứng đây bàn tán mãi sao? Mau chạy đi thu xếp chứ.
Chúng tôi nhìn nhau, lần lượt từng đứa gật đầu. Steve lại nói:
- Tốt rồi. Chúng ta chạy về nhà, lấy tiền, rồi gặp lại nhau tại đây. Nói với ba má các cậu là để quên sách vở hay gì đó tại trường. Tụi mình gom tiền lại, số còn thiếu mình sẽ mượn trong hũ đựng tiện của bà già.
Tôi hỏi:
- Lỡ cậu không chôm… xin lỗi, mình nói là lỡ cậu không mượn được thì sao?
- Thì bỏ cuộc. Nhưng chưa thử làm sao biết được. Nào, lẹ lên.
Nói xong, nó vọt ngay. Tommy, Alan và tôi cũng co giò chạy gấp.
CHƯƠNG BỐN
Tối hôm đó đầu óc tôi chỉ còn có thể nghĩ đến gánh xiếc quái dị. Tôi cố quên nhưng không được, thậm chí ngay cả khi ngồi xem chương trình TV ưa thích nhất. Thật kỳ lạ, thật phi thường: nào là người sói, cậu bé rắn, rồi lại còn nhện nữa chứ. Nhất là nhện, tôi cứ như sôi lên, không thể ngồi yên được. Ba má tôi không nhận ra điều gì, nhưng Annie thì biết. Annie là em gái tôi. Thỉnh thoảng nó làm tôi khó chịu, nhưng thường thì nó rất tuyệt. Nó không le te chạy tới má để mách lẻo mỗi khi tôi có lỗi và nó là đứa biết giữ bí mật.
Sau bữa ăn, khi hai anh em rửa bát chén trong bếp, nó hỏi:
- Anh sao vậy?
- Có gì đâu.
- Có mà. Tối nay anh kỳ cục lắm.
Tôi biết nó sẽ lải nhải hỏi hoài cho đến khi tìm ra sự thật, vì vậy tôi đành cho nó biết về gánh xiếc quái dị. Nó cũng đồng ý với tôi là nghe… rất tuyệt, nhưng:
- Anh không vào được đâu.
- Tại sao không?
- Em cá là người ta không cho trẻ con vào.
- Anh và các bạn của anh thì… OK. Nhưng nhóc cỡ em thì chắc chắn là không có cửa rồi.
Nó bắt đầu quạu, tôi vội nói:
- Xin lỗi. Anh không định nói thế đâu. Nhưng anh bực vì em nói đúng quá. Nhưng Annie, anh phải tìm mọi cách để vào xem cho bằng được.
- Em cho anh mượn hộp đồ trang điểm. Anh vẽ mấy vết nhăn cho già đi.
Tôi phì cười ôm chặt nó, một điều tôi ít khi làm.
- Cám ơn, nhóc. Nhưng không sao đâu. Vào được thì tốt, không được thì thôi.
Hai anh em tôi lau khô chén bát, rồi vội vàng trở lại phòng TV. Mấy phút sau ba tôi về tới. Ông làm trong những công trường xây dựng và thường về nhà muộn. Thỉnh thoảng ba tôi cũng hay càu nhàu, nhưng tối nay ông có vẻ rất hào hứng. Ông bế Annie lên quay một vòng.
Sau khi chào và hôn mẹ tôi, ông hỏi:
- Sao, con trai? Hôm nay có gì hứng thú không?
- Con lại làm thêm một cú hat trick nữa.
- Thật sao? Con tuyệt lắm.
Trong khi ba tôi ăn, chúng tôi tắt TV. Ông thích được yên tĩnh trong bữa ăn, để ông còn chuyện trò với vợ con.
Sau đó má vào phòng loay hoay với những con tem. Tôi mon men lại gần xem có con tem nào in hình những con thú lạ hay nhền nhện không. Tôi e dè hỏi:
- Má à, có bao giờ má xem những màn trình diễn quái dị chưa?
- Màn trình diễn gì?
Vẫn chăm chú vào mấy con tem, má tôi lơ đãng hỏi. Tôi nói:
- Những màn quái dị ấy mà, như đàn bà có râu, người sói, cậu bé rắn…
Má nhìn lên tôi, hỏi:
- Cậu bé rắn? Cậu bé rắn là cái quái quỷ gì vậy?
- Là… nhưng má đã xem bao giờ chưa?
- Chưa. Đó là trò bất hợp pháp.
- Nếu hợp pháp, và họ đến tỉnh mình trình diễn, má có đi xem không?
Bà rùng mình nói:
- Không. Những trò đó làm má sợ. Hơn nữa, má cảm thấy không được công bằng với những con người đó.
- Là sao ạ?
- Nếu con bị nhốt vào một cái cũi cho mọi người ngắm nhìn, con có thích không?
- Con đâu phải là một quái nhân.
Mẹ tôi cười lớn, hôn lên trán tôi:
- Má biết chứ, con là thiên thần nhỏ của má chứ bộ.
- Má, thôi đi mà.
Tôi nhăn nhó, lấy tay lau trán. Má tôi cười nói:
- Coi nó mắc cỡ kìa. Này, nhưng thử tưởng tượng con có hai cái đầu hay bốn cánh tay, và có ai đó bắt con trình diễn để mọi người cười giỡn, chắc chắn con sẽ không thích, đúng không?
- Đúng.
- Nhưng tóm lại, tất cả chuyện này là gì đây? Con lại thức khuya xem phim kinh dị, phải không?
- Đâu có.
- Con biết ba má không thích các con xem…
- Con không thức khuya, MÁ TIN CHƯA?
Tôi hét lên. Bực nhất là cha mẹ không chịu tin mình. Mẹ tôi bảo:
- Thôi được ròi, ông tướng, không phải la làng lên như thế. Nếu con không muốn ở lại đây với má, xuống vườn phụ ba tưới cây đi.
Tôi không muốn đi, nhưng má đang bực vì tôi la lớn quá. Tôi xuống nhà bếp. Ba vừa vào lối cửa sau, thấy tôi ông nói ngay:
- Thì ra cu cậu trốn ở đây. Bận tới nỗi không giúp ông già một tay sao?
- Con đang định ra vườn mà.
- Tôi làm xong rồi, cậu Cả.
Tôi nhìn ông xỏ chân vào giày. Chân ba tôi to đùng. Ngày còn bé, tôi vẫn được ông cho đứng trên hai chân ông, dạo khắp nhà. Cứ y như được đứng trên hai tấm ván trượt vậy. Tôi hỏi:
- Bây giờ ba làm gì ạ?
- Viết thư.
Ba tôi có “bạn bốn phương” trên khắp thế giới, từ Mỹ, Úc, Nga tới Trung Quốc. Ông bảo ông thích giữ liên lạc với những láng giềng trên địa cầu của ông, nhưng tôi nghĩ đó chỉ là cái cớ để ba tôi đánh một giấc ngủ ngắn trong phòng làm việc.
Tôi rủ Annie chơi ten-nít trên giường, dùng mấy đôi bít-tất cuốn lại làm banh. Nhưng nó từ chối, vì mải chơi bày hàng với mấy con búp bê.
Tôi vào phòng chúi mũi lên đống truyện tranh. Tôi có nhiều truyện tranh rất tuyệt: Siêu nhân,
Người nhện, Người dơi và Spawn, Tôi khoái nhất Spawn. Một anh hùng siêu nhiên. Nhiều cuốn Spawn làm tôi sợ, chính vì vậy tôi mới khoái.
Gần như suốt đêm tôi hết đọc lại hì hục thu xếp đống truyện tranh. Tôi thường trao đổi với
Tommy. Bộ sưu tập truyện tranh của nó cũng dễ nể lắm, nhưng bìa sách của nó dính toàn nước ngọt, những trang trong đầy vụn bánh. Vì vậy, tôi không đổi sách với nó nữa.
Thường thường tôi đi ngủ lúc mười giờ. Nhưng hôm nay hình như ba má quên khuấy tôi. Tôi thức đến gần mười rưỡi. Ba làm bộ như có việc đi qua phòng tôi, vì thấy đèn còn sáng. Ông không quan tâm lắm đến việc tôi thức khuya đâu, má mới là người khép tôi vào kỷ luật.
Ba bảo:
- Ngủ đi. Sáng mai ba không gọi con thức được đâu.
- Một phút nữa thôi, ba. Xếp dọn xong đống truyện tranh này, con đi đánh răng ngay mà.
- Được. Nhưng lẹ lên, cậu Cả.
Tôi dồn đống truyện tranh vào thùng, đặt lên kệ, phía trên giường của tôi.
Mặc áo ngủ xong, tôi đi đánh răng, rất thủng thẳng, gần mười một giờ tôi mới leo lên giường. Cảm thấy mệt nhoài và biết chắc chỉ vài giây nữa là sẽ ngủ khò. Điều cuối cùng tôi nghĩ đến là Gánh Xiếc Quái Dị. Tôi tự hỏi, cậu bé rắn như thế nào nhỉ? Râu của một người đàn bà dài đến cỡ nào? Hans Tay-thần và Gertha Răng-thép là sao? Nhưng trên hết, tôi mơ thấy con nhện.
CHƯƠNG NĂM
Sáng hôm sau, Tommy, Allan và tôi đứng đợi Steve trước cổng trường, cho đến khi chuông reo chúng tôi vẫn không thấy nó đâu, nên đành phải vào lớp.
Tommy bảo:
- Tớ cá là nó chuồn rồi. Không mua được vé, cu cậu quê quá, lánh mặt tụi mình luôn.
Tôi lên tiếng:
- Thằng Steve mà biết quê? Nó không thèm lánh mặt đâu.
- Mua được hay không, mình mong nó cũng đem tờ bướm về. Mình muốn dán trong phòng ngủ…
Tommy hô hố cười, ngắt ngang lời Allan:
- Ngốc ơi, cậu không chưng “tấm tranh” đó được đâu.
- Tại sao?
- Anh Tony thấy. Cậu sẽ bị “dợt” đẹp luôn.
Allan ngẩn tò te, bần thần, lẩm bẩm: “Ờ nhỉ.”
Giờ đầu, chúng tôi học địa lý. Tôi thật khốn khổ, không trả lời được câu hỏi nào của cô Quinn cho ra hồn. Môn địa lý là môn tủ của tôi, vì từ bé tôi đã bắt chước má sưu tầm tem. Su (?) năm câu trả lời sai, cô Quinn hỏi tôi:
- Thức khuya quá, phải không Darren Shan?
- Dạ… không.
- Cô nghĩ là có đấy. Mắt em xệ xuống như túi đi chợ của bà già rồi kìa.
Cả lớp cười ồ, kể cả tôi, vì cô giáo tôi ít khi nói đùa lắm.
Buổi sáng chậm chạp trôi qua, càng chậm hơn khi người ta chờ đợi và thất vọng. Tôi mơ màng nghĩ đến gánh xiếc quái dị, tưởng tượng mình là một quái nhân và chủ nhân gánh xiếc là một gã độc ác, đánh đập tất cả dù chẳng ai có lỗi gì. Nhưng vì hắn hung dữ và quá to lớn, nên chẳng ai dám nói năng gì. Cho đến một ngày, hắn liên tục quất roi tôi, tôi hóa thành sói, ngoặm đứt đầu hắn. Tất cả hoan hô tôi và bầu tôi lên làm ông chủ mới.
Thật là một giấc mơ tuyệt vời.
Thế rồi, gần giờ ra chơi, cửa bật mở. Thử đoán xem ai vào? Chính thằng Steve! Bà mẹ nó theo sau,
bà nói mấy câu với cô Quinn. Cô giáo mỉm cười, gật đầu. Khi bà mẹ ra khỏi lớp, Steve về chỗ
ngồi.
Tôi bực tức thì thầm:
- Mày trốn đâu vậy?
- Phòng nha sĩ. Tớ quên cho các cậu biết…
- Còn vụ…
Tiếng cô Quinn vang lên:
- Thôi, đủ rồi, Darren.
Tôi câm luôn. Tới giờ ra chơi, chúng tôi xúm quanh Steve, xô đẩy la hét. Tôi: “Mày mua được vé không?” Tommy: “Cậu đến nha sĩ thật không?” Alan: “Tờ bướm của tao đâu?”
Steve cũng xô lại chúng tôi, vừa sằng sặc cười vừa nói:
- Bình tĩnh, bình tĩnh nào các em. Sẽ có phần xứng đáng cho kẻ nào biết đợi chờ.
Tôi hét lên:
- Đừng ấm ớ nữa. Cậu mua được hay không?
- Có và… không.
Tommy cáu tiết:
- Thế là con khỉ gì?
- Tao bảo: có tin tốt, tin xấu và tin… giật gân. Muốn nghe tin nào trước?
- Tin… giật gân là sao?
Tôi bối rối hỏi. Steve kéo cả bọn ra một góc sân, nhìn quanh rồi mới thì thầm:
- Tớ lấy tiền rồi chuồn êm, vì bà già mắc nói điện thoại. Ba chân bốn cẳng chạy tới chỗ bán vé, các cậu có biết mình thấy ai tại đó không?
- Ai?
- Thầy Dalton. Thầy đứng lù lù ở đó với mấy người cảnh sát. Ghê lắm, ngay lúc họ đang kéo một
thằng cha nhỏ con ra khỏi quầy vé, thình lình, BÙM, một tiếng nổ phát khiếp vang lên, khỏi tỏa mù
mịt. Và, các cậu biết không, khói tan, chẳng thấy thằng cha bán vé đâu nữa. Biến mất tiêu luôn. Ly
kỳ chưa?
Alan hỏi:
- Rồi thầy và mấy cảnh sát làm gì?
- Lục soát, chẳng thấy gì, rồi bỏ đi.
- Họ có thấy cậu không?
- Dở hơi. Tớ không biết trốn à?
Tôi rầu rĩ nói:
- Vậy là cậu cóc mua được vé chứ gì?
- Ai bảo thế?
- Mua rồi?
- Mình vừa quay đi, gã nhỏ con xuất hiện ngay sau lưng. Hắn nhỏ xíu, lại còn trùm một cái áo
choàng kín mít từ đầu đến chân. Hắn giật tờ bướm trên tay mình, rồi đưa ra hai cái vé. Mình đưa tiền và…
Chúng tôi reo lên:
- Hoan hô Steve. Vậy là cậu mua được vé rồi.
- Đúng, nhưng… có một rắc rối… mình đã bảo có một tin xấu rồi mà.
Chắc nó làm mất hết vé rồi, tôi nghĩ và hỏi:
- Chuyện gì nữa?
- Hắn chỉ bán cho mình hai vé. Mình đưa ra số tiền mua bốn vé, nhưng hắn đưa cho mình một tấm
cạc ghi rõ: Gánh Xiếc Quái Dị chỉ bán hai vé cho một tờ bướm. Mình dúi thêm tiền, kiểu mua vé
chợ đen, vì mình có tới gần bảy mươi bảng cơ mà, nhưng hắn nhất quyết không nhận.
Tommy kinh ngạc:
- Hắn chỉ bán cho cậu hai vé?
Alan hấp tấp hỏi:
- Vậy nghĩa là…
Steve nói ngay:
- Nghĩa là chỉ có hai trong bốn chúng ta có thể đi. Còn hai… đành phải ở nhà.
CHƯƠNG SÁU
Chiều thứ sáu, ngày cuối của một tuần học và bắt đầu mấy ngày nghỉ cuối tuần. Tất cả đều cười nói, chạy về nhà cho mau, hí hởn như chim sổ lồng. Chỉ trừ một bộ tứ vẫn chưa chịu rời khỏi sân trường, mặt mày ủ rũ như đã đến ngày tận thế. Tên của bốn tay này hả? - Steve Leonard, Tommy Jones, Alan Morris và mình, Darren Shan.
Alan rên rẩm:
- Chơi không đẹp. Chưa ai từng nghe một gánh xiếc chỉ bán cho mỗi người hai vé.
Tất cả đều đồng ý với nó, nhưng chẳng đứa nào biết làm gì, ngoài chuyện loanh quanh trong sân, sục chân xuống cát. Sau cùng Alan cất tiếng đưa ra câu hỏi mà đứa nào cũng đang nghĩ tới:
- Vậy, bây giờ, đứa nào được đi?
Chúng tôi bối rối nhìn nhau. Tôi nói:
- Thằng Steve phải được một vé. Vì nó bỏ tiền ra nhiều hơn tất cả chúng ta và nó có công đi mua
nữa.
- Đồng ý.
Tommy nói và Alan cũng đồng ý theo ngay. Tôi cứ tưởng Alan sẽ phản đối. Steve cười cười lấy một vé, hỏi:
- Cậu nào đi với tớ?
Alan vội nói:
- Mình lấy được tờ bướm.
Tôi bảo:
- Quên đi. Để thằng Steve chọn.
Tommy cười lớn:
- Láu cá vừa thôi. Steve là bồ tèo của mày. Mày để cho nó chọn, đương nhiên là mày ăn chắc rồi. Ý tớ là đấu võ. Nhà mình có găng quyền anh.
- Không được.
Alan lí nhí nói. Nó nhỏ tuổi nhất và chẳng bao giờ đánh nhau. Tôi bảo:
- Tớ cũng không khoái đám đấm nhau.
Tôi không nhát, nhưng biết trước là sẽ không thắng nổi Tommy. Nhà nó có bao cát và ông già nó
dạy nó đấm rất bài bản. Chưa hết một hiệp là nó sẽ nó sẽ cho tôi đo ván đứ đừ ngay. Tôi đề nghị:
- Tụi mình rút que đi.
Tommy giãy nảy lên, không đồng ý. Chưa bao giờ nó thắng trong bất cứ trò may rủi nào.
Chúng tôi bàn tán ì xèo (cãi lộn thì đúng hơn) cho đến khi Steve đưa ra một ý kiến. Nó bảo: “Xong
rồi, tớ biết phải làm sao.”
Lấy hai trang giữa của vở bài tập, nó dùng kéo thận trọng cắt nhỏ thành nhiều miếng, khuôn khổ
vừa bằng một cái vé xem xiếc. Nó bỏ tất cả vào cái hộp đựng đồ ăn trưa. Cầm lên cái vé còn lại,
Steve nói:
- Đây là luật chơi. Tớ sẽ bỏ cái vé này vào hộp luôn, rồi đậy nắp lại, lắc mạnh. Các cậu đứng sát nhau, mình sẽ tung tất cả giấy trong hộp lên đầu các cậu. Ai bắt đúng cái vé, sẽ là người thắng cuộc. Mình và người thắng sẽ trả lại tiền người thua đã đóng góp. Như vậy đủ công bằng chưa? Cậu nào có ý kiến hay hơn thì cứ nói.
Tôi đồng ý, nhưng Allan lèm bèm:
- Mình yếu nhất, làm sao nhảy cao bằng các cậu đươc.
Tommy nóng nảy:
- Thôi đi đừng càm ràm nữa. Tớ mới là thằng nhỏ con nhất, nhưng tớ cóc cần. Hơn nữa, biết đâu cái vé rớt xuống đất thì sao nào.
Alan bảo:
- Được rồi. Nhưng cấm xô đẩy đấy.
- Đồng ý.
- Đồng ý.
Steve đậy nắp hộp, lắc mạnh một lúc, rồi hỏi:
- Sẵn sàng chưa?
Chúng tôi lùi xa khỏi nó một chút. Steve bảo:
- Tớ đếm tới ba là tung những miếng giấy này lên không. Nào. Một…
Tôi thấy Alan lau vội mồ hôi quanh mắt.
- Hai.
Những ngón tay thằng Tommy bắt đầu vặn vẹo.
- Ba!
Những miếng giấy nhỏ tung bay.
Một cơn gió thổi những miếng giấy dạt về phía chúng tôi. Tommy và Allan vừa la hét vừa chộp
bắt.
Tôi vừa định đưa tay lên, thình lình một sức mạnh thôi thúc tôi làm một chuyện thật lạ lùng. Có vẻ điên rồ, nhưng tôi vẫn thường làm theo sự thôi thúc ngấm ngầm lạ lùng như thế.
Vì vậy tôi nhắm mắt, xòe hai bàn tay như một người mù, và chờ đợi một điều, như phép lạ, xuất
hiện.
Các bạn chắc đã quá biết: khi chúng ta bắt chước một chuyện gì đó đã thấy trên màn ảnh, như đi xe đạp ngược, cho ván trượt nước lên không chẳng hạn, chúng ta thường thất bại. Nhưng đôi khi những chuyện kỳ lạ, mình không ngờ nhất, thì lại xảy ra.
Trong một giây, tôi cảm thấy những mảnh giấy chạm vào tay. Tôi định bắt lấy, nhưng có một cái gì đó trong tôi bảo, chưa đúng lúc. Rồi, một giây sau, một tiếng nói trong tôi kêu lên: “Đó!”
Tôi vội nắm chặt bàn tay lại.
Gió dịu hẳn và những mảnh giấy là đà rơi trên mặt đất. Tôi thấy Alan và Tommy đang quỳ gối, tìm cái vé. Tommy kêu lên:
- Không có.
Alan cũng oang oác mồm:
- Tớ chẳng thấy đâu cả.
Rồi cả hai ngẩng nhìn tôi. Tôi không nhúc nhích, đứng im, tay nắm chặt. Steve hỏi nhỏ:
- Cậu nắm cái gì trong tay thế, Darren?
Tôi nhìn nó lom lom. Tôi như người trong mơ, không nói, không cử động được.
Tommy bảo:
- Nó không có cái vé đâu. Mắt nó nhắm tịt suốt, làm ăn gì được.
- Có thể. Nhưng trong nắm tay nó có cái gì kìa.
Steve nói. Alan xô tôi, bảo:
- Mở bàn tay ra. Cậu giấu cái gì vậy?
Tôi nhìn Alan, Tommy và Steve. Rồi từ từ, tôi xòe bàn tay phải. Không có gì.
Tim và bụng tôi cùng nhộn nhạo lên. Alan cười toe toét và Tommy lại lom khom tìm kiếm dưới đất. Steve bảo:
- Còn tay kia.
Tôi nhìn xuống, gần như tôi quên tịt bàn tay trái. Chầm chậm, rất chậm, tôi xòe bàn tay.
Ngay giữa bàn tay tôi là một mảnh giấy màu xanh, có răng cưa. Nhưng mảnh giấy nằm úp, và mặt sau không có gì, vì vậy tôi phải lật lên xem cho chắc ăn.
Trên nền xanh là hàng chữ đỏ chót: Gánh Xiếc Quái Dị.
Tôi có vé rồi! Tôi sẽ đi xem với thằng Steve. Tôi la lớn: YEEEEEEEEESSS! Tôi đấm mạnh tay vào không khí. Tôi thắng rồi!
CHƯƠNG BẢY
Đây là hai vé xem buổi diễn tối thứ bảy. Rất tốt, như vậy tôi có đủ thời gian để thuyết phục ba má và xin phép cho tôi được ngủ lại nhà Steve đêm thứ bảy.
Tôi sẽ không nói cho ba má biết về những màn trình diễn quái dị. Vì nếu ông bà biết, chắc chắn tôi sẽ không được phép đi. Tôi cảm thấy áy náy vì đã không nói sự thật, nhưng sẽ còn tồi tệ hơn, nếu tôi nói dối. Tốt nhất chỉ còn cách câm miệng.
Thứ bảy sao mà lâu đến thế. Tôi kiếm chuyện làm suốt cho thời gian qua mau, nhưng tôi vẫn
không ngừng nghĩ tới Gánh Xiếc Quái Dị. Tôi bồn chồn, gắt gỏng cả ngày thứ bảy, vì thế má tôi đã mừng rỡ khi tới giờ tôi đến nhà Steve.
Annie biết tôi đi đâu, nó dặn tôi đem về cho nó một tấm hình, nhưng tôi cho nó biết, họ đã ghi rõ
ràng trên vé: cấm chụp hình. Tôi lại không đủ tiền để mua cho nó một áo thun lưu niệm. Tuy nhiên, tôi hứa, nếu có thể, tôi sẽ đem về cho nó một huy hiệu hay một tấm poster, nhưng nó phải hứa không cho ba má biết, còn nếu ông bà biết, cũng không được nói ai cho.
Ba bỏ tôi xuống cửa nhà Steve lúc 6 giờ. Ông hỏi, tôi muốn ông đón vào mấy giờ sáng mai. Tôi bảo ông đón tôi vào buổi trưa cũng được.
Trước khi lái xe đi ba còn dặn:
- Đừng thức khuya xem phim kinh dị. Ba không muốn con về nhà, đêm ngủ cứ hét toáng lên vì ác mộng đâu.
- Ồ, ba. Các bạn lớp con đều xem phim kinh dị, có sao đâu.
- Nghe này, những phim cũ của Vicent Price hay những phim Ma-cà-rồng ít khiếp đảm hơn thì ba không cấm. Nhưng không được xem những phim quá rùng rợn bây giờ. Con hứa chứ?
- Con hứa.
- Thế mới là chàng trai đàng hoàng chứ. Ba đi đây.
Tôi chạy vội lại cửa bấm bốn hồi chuông. Đó là tín hiệu bí mật của Steve. Chắc nó đứng ngay bên trong, nên vừa nghe tín hiệu, nó mở ngay cửa, kéo tôi vào. Nó chỉ lên cầu thang, nghiêm trang nói như một chiến sĩ trong phim:
- Tới giờ xuất kích. Thấy ngọn đồi trước mặt không?
Tôi đứng nghiêm trả lời:
- Rõ, thưa thủ trưởng.
- Chúng ta phải chiếm được mục tiêu trước khi trời tối.
- Chúng ta sử dụng súng trường hay súng máy, thưa thủ trưởng?
- Điên à? Chúng ta không bao giờ vác theo súng máy trong vùng bùn lầy như thế này.
Nó hất đầu về tấm thảm lót sàn. Tôi đồng ý ngay:
- Rõ. Súng trường là đúng nhất.
- Và, nếu chúng ta thất bại, hãy để dành viên đạn cuối cùng cho cậu.
Chúng tôi thận trọng lò mò lên thang, “pằng pằng” bằng súng tưởng tượng và tiêu diệt những kẻ
thù tưởng tượng. Trò trẻ, nhưng sướng tuyệt. Trên đường tiến quân, Steve bị mất một chân, tôi
phải giúp nó leo tới “đỉnh đồi”. Nó cúi xuống cầu thang phía dưới, gào lên: “Các người có thể lấy
chân ta, rất có thể sẽ lấy được mạng ta, nhưng không bao giờ chiếm được tổ quốc ta.”
Một tuyên ngôn thật hào hùng, kích động. Ít nhất cũng kích động được bà Leonard, má của nó. Bà
hốt hoảng chạy ra khỏi phòng khách, xem chuyện gì mà khiếp thế. Thấy tôi, bà mỉm cười hỏi tôi
có muốn uống gì không. Tôi cám ơn, không uống gì. Thằng Steve bảo nó cần trứng cá ca-vi-a và
rượu sâm-banh mừng chiến thắng. Nhưng kiểu cách ăn nói của nó không làm tôi cười nổi.
Steve không hợp với mẹ. Bố nó bỏ đi từ ngày nó còn nhỏ xíu. Chỉ có hai mẹ con sống cùng nhau,
và luôn luôn cãi nhau rầm rầm. Tôi không hiểu lý do và tôi cũng không bao giờ hỏi Steve. Có những
chuyện con trai không nên bàn tán, tâm sự với nhau. Bọn con gái tỉ tê “buôn dưa” mấy vụ này tài
lắm. Bạn biết rồi đó. Còn con trai chỉ có thể bàn cãi ì xèo về máy tính, bóng đá, đánh nhau thôi.
Khi mẹ của Steve trở lại phòng khách, tôi thì thầm hỏi Steve:
- Tối nay chúng mình chuồn ra cách nào đây?
- Yên tâm. Tối nay bà ấy ra ngoài. Lúc trở về bà ây tưởng chúng mình đi ngủ rồi.
Nó thường gọi mẹ là “bà ấy” thay vì “má mình”. Tôi hỏi:
- Lỡ má cậu kiểm tra thì sao?
Nó cười, một nụ cười rất… độc ác:
- Tự tiện vào phòng tớ mà không thông báo trước à? Không dám đâu.
Tôi không ưa lối nói như thế của nó. Nhưng tôi cũng không muốn làm nó nổi “cơn điên”. Tôi không muốn bất kỳ thứ gì làm hỏng buổi đi xem tối nay.
Steve lôi ra cả đống truyện tranh, những truyện chỉ dành cho người lớn. Ba má tôi sẽ la đến vỡ nhà nếu ông bà thấy tôi đọc loại truyện này.
Nó còn có nhiều chồng sách, báo cũ. Toàn sách báo về ma, quái vật, ma-cà-rồng, ma sói…
Đọc xong một cuốn về ma-cà-rồng, tôi hỏi:
- Gậy dùng để đâm ma-cà-rồng phải làm bằng gỗ hả?
- Không. Có thể bằng sắt, ngà voi, kể cả bằng nhựa, điều quan trọng là phải đâm xuyên qua tim nó.
- Như thế là đủ giết được ma-cà-rồng?
- Chính xác.
- Nhưng cậu bảo người ta phải cắt đầu nó, ngâm trong tỏi, rồi ném xuống sông cơ mà.
- Có sách nói vậy, nhưng đó là cách để tiêu diệt cả hồn và xác nó, để nó không thể làm ma hiện lên được nữa.
- Có đúng là ma-cà-rồng lại hiện hồn lên được nữa không?
- Chắc là không. Nhưng để biết rõ hơn, cậu phải có thời gian và có dịp được cắt một cái đầu của chúng. Cậu không muốn được gặp ma-cà-rồng, phải không?
Tôi rùng mình:
- Ồ, không. Thế còn ma sói? Người ta cần đạn bằng bạc để giết chúng không?
- Mình không nghĩ thế, cứ nã cả đống đạn thường cũng đủ quá rồi.
Steve biết tất cả những gì cần biết về chuyện rùng rợn. Nó đọc tất cả các loại sách kinh dị. Nó bảo mỗi truyện dù đa số là bịa đặt, nhưng ít nhất vẫn có một phần sự thật. Tôi hỏi:
- Cậu có nghĩ, Người-sói trong gánh xiếc này là… ma sói không?
- Không đâu. Theo những gì mình đã đọc, Người-sói trong rạp xiếc chỉ là người có đầy lông. Cũng có một số họ giống thú hơn người, ăn gà và đồ ăn sống, nhưng họ không phải là ma sói. Đưa ma sói ra trình diễn nguy hiểm lắm, vì nếu gặp ngày trăng tròn, chúng hóa thành sói ngay.
- Khiếp nhỉ. Thế còn cậu bé rắn?
Steve phì cười:
- Này, hỏi gì mà tới tấp vậy. Ngày xưa, những màn trình diễn như thế này rùng rợn lắm. Chủ gánh xiếc bỏ đói những quái nhân, nhốt họ trong chuồng có khóa, đối xử với họ còn tệ hại hơn loài vật. Nhưng mình không biết gánh xiếc này như thế nào. Có thể là những quái nhân thật, cũng có thể chỉ là những người bình thường ngụy trang thôi.
Buổi trình diễn được tổ chức tại gần khu ngoại ô. Để kịp giờ, chúng tôi phải đi ngay sau lúc 9 giờ. Một phần vì không đủ tiền đi taxi, một phần chúng tôi muốn đi bộ để có thời gian nói toàn chuyện ma cho đã. Thường thường, vì đọc quá nhiều, Steve lẫn lộn tên nhân vật này với nhân vật khác,
đoạn kết lại cho lên đầu. Nhưng tối nay thì không, nó kể trơn tru hấp dẫn, còn siêu hơn ông vua truyện kinh dị Stephen King.
Suýt bị lỡ giờ, vì đường xa hơn chúng tôi tưởng. Gần nửa cây số cuối, hai đứa co giò chạy, thở hồng hộc khi tới nơi.
Đó là một rạp hát cũ kỹ, đã có thời thường được dùng để chiếu phim. Trước kia, tôi đã qua đây vài lần. Steve đã từng cho tôi biết, rạp phải đóng cửa vì có một đứa trẻ bị chết trong tai nạn ngã từ ban công xuống. Nó còn bảo cái rạp này bị ma ám. Hỏi ba tôi, ông bảo: “Toàn chuyện bố láo, nhảm nhí.” Khó thật, đôi khi chẳng biết tin ông già mình hay nên tin thằng bạn thân nhất nữa.
Không bảng tên ngoài cửa rạp, không xe cộ và chẳng có ai xếp hàng mua vé. Sau khi khom người thở dốc, chúng tôi đứng nhìn ngôi nhà đá xám cao lớn, tối tăm. Nhiều cửa sổ đã rụng rời, còn cửa ra vào trông cứ như một cái mồm khổng lồ há toang hoác.
Tôi ráng tỏ ra không hề sợ hãi, hỏi Steve:
- Ê, mày tin chắc không lầm chỗ chứ?
Nó đọc kỹ lại cái vé:
- Đúng chỗ này mà.
- Hay cảnh sát đã khám phá ra, hoặc tối nay không diễn?
- Có thể.
- Chúng mình phải làm gì bây giờ?
Nó cũng bối rối nhìn lại tôi trước khi trả lời:
- Tao nghĩ chúng mình cứ vào thử, chẳng lẽ đi xa thế mà không biết chắc chuyện gì xảy ra à?
- Đồng ý.
Tuy nói vậy, nhưng tôi nhìn ngôi nhà thấy khiếp quá, giống như một ngôi nhà ma trong những phim kinh dị, ai vào là không thể nào ra được nữa. Tôi ngập ngừng hỏi Steve:
- Sợ không?
- Cóc sợ.
Hai đứa ngó nhau cười. Biết tỏng là cả hai đều sợ vãi linh hồn, nhưng dù sao chúng tôi có hai đứa cơ mà. Người ta không đến nỗi quá sợ hãi khi không phải ở một mình. Bạn đồng ý chứ?
Steve cố nói đùa:
- Mời vào.
- Xin mời.
Chúng tôi cùng hít mạnh một hơi dài, nắm chặt tay nhau, tiến lên những bực thềm (có chín bực thềm đá long lở dẫn lên cửa, bực nào cũng phủ đầy rêu). Chúng tôi bước vào rạp.
CHƯƠNG TÁM
Chúng tôi thấy mình đang đứng trong một hành lang dài, tối tăm, lạnh lẽo. Tôi đã mặc áo jacket mà vẫn thấy lạnh run người. Tôi hỏi Steve:
- Sao ở ngoài ấm, trong này lạnh khiếp vậy?
- Mấy ngôi nhà cũ đều thế cả.
Tôi mừng vì cuối hành lang có một ngọn đèn, càng vào sâu, lối đi càng sáng dần. Nếu hành lang này tối om, chắc tôi sợ đến không bước nổi.
Vách tường, trần nhà loang lổ, lỗ chỗ. Giữa trưa vào nơi này cũng phải dựng tóc gáy, huống gì bây giờ đã là mười giờ đêm.
Steve đứng lại, nói:
- Có một cái cửa này.
Nó mới mở hé, cánh cửa đã rên lên ầm ầm như tiếng nắp quan tài bị nạy ra. Tôi suýt ù té chạy.
Nhưng thằng Steve chẳng hề sợ hãi gì, nó thò đầu vào trong. Sau vài giây quen với bóng tôi, nó quay lại bảo:
- Có một cầu thang lên ban công.
- Chỗ thằng nhỏ ngã xuống hả?
- Ừa.
- Mình lên không?
- Thôi. Trên đó tối thui, chẳng thấy có đèn đóm gì. Thử tìm xem còn lối vào nào nữa không…
- Các em cần giúp gì không?
Tiếng nói ngay phía sau, làm hai chúng tôi giật nẩy mình quay ngoắt lại. Người đàn ông cao nhất
thế giới đứng nhìn xuống như chúng tôi là hai con chuột nhắt. Ông ta cao gần đụng trần nhà, hai
bàn tay xương xẩu to đùng và hai mắt đen thui như hai cục than được gắn trên mặt. Miệng ông
không hề mấp máy, tiếng nói ồ ề, khản đặc vẫn phát ra. Chắc chắn ông ta có biệt tài phát âm bằng
bụng.
- Đêm hôm khuya khoắt rồi mà trẻ con vẫn lang thang thế này sao?
Steve vừa liếm môi vừa ngập ngừng nói:
- Chúng cháu đi… đi xem xiếc kinh dị.
- Hả? Các em có vé không?
Steve đưa ra cái vé. Ông ta lẩm bẩm:
- Tốt lắm. Còn em, Darren, em cũng có vé chứ?
Tôi thọc tay vào túi, bỗng sững sờ: Trời đất! Ông ta biết tên mình! Tôi liếc qua Steve, hai chân cậu ta run bần bật.
Ông ta mỉm cười. Hàm răng đen, cái còn cái mất. Lưỡi vàng khè.
- Ta tên là ông Cao. Ta là chủ nhân gánh xiếc quái dị này.
Steve hỏi:
- Tại sao ông biết tên bạn cháu?
Ông Cao cười sằng sặc, khom mình, mắt sát mắt Steve:
- Ta còn biết nhiều hơn thế. Ta biết cả tên em. Ta biết em ở đâu. Ta biết em không thích cha mẹ.
Ông ta lùi lại một bước, quay sang tôi. Hơi thở của ông ta bốc mùi hôi tới tận trời.
- Ta biết em không nói cho cha mẹ biết là em tới đây. Ta biết em đã thắng để có vé bằng cách nào.
- Cách nào?
Không biết có phải vì răng tôi va vào nhau lộp cộp, làm ông ta không nghe được câu hỏi, hay vì không muốn trả lời, ông ta quay lưng lại, vừa bước đi vừa nói:
- Lẹ lên mới kịp. Buổi diễn sắp bắt đầu rồi.
Ông ta không sải bước dài như tôi tưởng. Nhưng ông ta vừa rẽ khuất vào cuối hành lang trước
chúng tôi vài bước, khi rẽ theo ông, chúng tôi đã thấy ông ta ngồi sau một cái bàn dài phủ vải đen, đầu đội một cái mũ đỏ và tay đeo găng đàng hoàng. Một tay đưa ra, ông nói:
- Vui lòng cho soát vé.
Cầm hai cái vé ông ta bỏ tõm vào mồm, nhóp nhép nhai rồi… nuốt.
- Tốt rồi. Bây giờ hai em có thể vào đi. Đúng qui định, chúng tôi không tiếp đón trẻ em, nhưng thấy hai cậu đàng hoàng, rõ là hai chàng trẻ tuổi dũng cảm. Nên… coi như đây là một ngoại lệ.
Cuối sảnh có một tấm màn xanh che ngang lối đi. Chúng tôi ngập ngừng ngó nhau. Steve hỏi:
- Chúng cháu đi thẳng qua màn ạ?
- Tất nhiên.
- Có người dẫn lối không?
Ông ta cười lớn:
- Nếu cần phải có người nắm tay đưa vào, sao không đi cùng bà vú?
Tôi giận đến quên sợ, đi thẳng lại vén tấm màn, làm thằng Steve cũng phải ngạc nhiên.
Tôi không biết tấm màn làm bằng gì, nhưng nó nghe hẫng như tơ nhện. Tôi đứng trong một hành lang ngắn, trước mặt tôi vài thước còn có một tấm màn xanh nữa. Steve tiến đến bên tôi. Chúng tôi nghe tiếng ồn ào phía sau bức màn.
- Mày thấy có an toàn không?
- Tao thấy tiến tới coi bộ còn an toàn hơn là rút lui. Lão Cao chắc sẽ không thú vị gì nếu chúng mình quay lại.
- Mày thấy chuyện ông ta biết tất cả về chúng mình là sao?
- Chắc lão biết xem bói.
- Ông ta làm tao chết khiếp được.
- Tao thì hơn gì mày.
Chúng tôi tiến bước.
Đó là một căn phòng rộng. Ghế dựa đã dẹp bỏ từ lâu. Nhưng những băng ghế dài đã được kê thay ghế. Chúng tôi dáo dác tìm ghế trống. Cả khán phòng gần như chật cứng. Nhưng chỉ hai chúng tôi là trẻ con. Mọi người lom lom nhìn hai đứa và tiếng rì rầm bàn tán nổi lên.
Len lỏi đến hai ghế trống, qua những đôi chân và tiếng càu nhàu. Đó là một chỗ ngồi rất tốt: ngay
chính giữa và không có ai quá cao ngồi phía trước. Chúng tôi nhìn lên sân khấu rất rõ. Tôi hỏi Steve:
- Ở đây có bán bắp rang không nhỉ?
- Vớ vẩn. Cậu muốn mua bắp rang trong rạp xiếc quái dị à? May ra có bán trứng rắn, mắt thằn lằn. Tớ cá là không có bắp rang đâu.
Khán giả quanh tôi đủ mọi thành phần: từ y phục rất hợp thời trang, tới quần áo lao động. Từ già
khú khụ tới những người chỉ hơn tôi và Steve mấy tuổi. Có những người cười nói oang oang với
bạn bè như đang xem bóng đá. Nhưng lại có những người ngồi im thin thít, lo ngại nhìn quanh.
Tuy nhiên có một điều rất giống nhau, tất cả đều tỏ vẻ tò mò háo hức, chờ đợi những gì đặc biệt, chưa từng được thấy bao giờ.
Giữa lúc đó, một hồi kèn rộn rã vang lên. Mọi người đều im bặt. Tiếng kèn kéo dài, mỗi lúc một lớn hơn. Các ngọn đèn lần lượt tắt. Chung quanh tôi tối om om. Tôi bắt đầu thấy sợ, nhưng đã quá muộn để tháo lui.
Thình lình tiếng kèn tắt lịm. Im lặng như tờ. Tai tôi ù ù mất mấy giây, làm tôi chóng mặt. Cố bình tĩnh, tôi ngồi thẳng lại.
Một ngọn đèn xanh tỏa sáng trên sân khấu. Mấy giây kỳ quái trôi qua, vì sân khấu hoàn toàn im
ắng, không có gì xảy ra. Rồi hai người đàn ông xuất hiện, kéo theo một cái lồng có bánh xe và
được phủ kín bằng một thứ, trông giống như một tấm thảm bằng da gấu. Ra tới giữa sân khấu, hai người đàn ông ngừng lại, buông sợi dây kéo, rồi chạy vào sau cánh gà.
Mấy giây sau, tiếng kèn rúc lên ba hồi ngắn. Tấm thảm bay bổng khỏi cái lồng, để lộ ra quái nhân đầu tiên.
Ngay lúc đó tiếng la thét bắt đầu vang lên.
CHƯƠNG CHÍN
Thật ra không cần thiết phải hốt hoảng la thét đến vậy. Quái nhân thật sự gây sốc, nhưng bị xiềng xích trong lồng. Tôi nghĩ mọi người la lên vì phấn khích, giống như người ta la hét khi ngồi trên đu quay, chứ không thật sự vì sợ hãi.
Đó là Người-sói. Hắn xấu xí quá, toàn thân đầy lông lá, chỉ che phần giữa thân mình bằng một
mảnh vải, như Tarzan, để mọi người có thể thấy lông phủ khắp người. Bộ râu dài bù rối che gần hết mặt. Mắt màu vàng, răng đỏ lòm.
Người-sói nắm song lồng vừa lắc vừa gào thét. Khi hắn dịu lại và ngồi chồm hỗm như một con
chó, ông Cao tiến ra nói. Mặc dù giọng ông ta khàn khàn, ồ ề, nhưng tất cả mọi người đều nghe rõ từng lời.
- Thưa quý ông quý bà, chúng tôi hân hạnh chào mừng quý vị đã đến với Gánh Xiếc Quái Dị, mái
ấm của những con người kỳ lạ nhất thế giới. Đây là gánh xiếc cổ xưa nhất. Chúng tôi đã lưu diễn
từ 500 năm nay, đem cảm giác thích thú kỳ lạ cho nhiều thế hệ. Đội ngũ diễn viên đã từng đổi thay
nhiều lần, nhưng tôn chỉ của chúng tôi không hề thay đổi. Mục đích của chúng tôi là gây kinh ngạc và khiếp đảm cho khán giả. Chúng tôi luôn trình diễn những màn vừa hãi hùng vừa quái dị, những màn diễn quý vị sẽ không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên toàn thế giới.
Ông ta chậm rãi cảnh báo:
- Những ai nhút nhát vẫn còn kịp ra khỏi rạp lúc này. Tôi biết có những người đêm nay tới đây, đã nghĩ rằng, buổi trình diễn này chỉ là một trò đùa. Họ có thể tưởng tượng những quái nhân của chúng tôi là những người được ngụy trang hoặc là những người dị dạng vô hại. Không đúng vậy đâu. Tất cả những màn trình diễn đêm nay đều là thật. Mỗi diễn viên là một sự độc nhất vô nhị. Và… không có diễn viên nào vô hại.
Nói xong ông ta rời sân khấu. Hai người đàn bà xinh đẹp, trong bộ đồ bóng lộn, tiến ra mở khóa lồng Người-sói. Một số khán giả hoảng hốt, nhưng không ai bỏ khán phòng.
Ra khỏi lồng, Người-sói vừa tru vừa sủa lớn, cho đến khi một trong hai người đàn bà đưa ngón tay lên thôi miên hắn. Người kia nói với đám đông:
- Quý vị phải giữ hoàn toàn im lặng. Người-sói sẽ không làm hại quý vị, chừng nào chúng tôi còn
kiểm soát được nó. Nhưng một âm thanh lớn sẽ làm nó tỉnh lại, lúc đó quý vị sẽ bị nguy hiểm.
Sau đó, hai người cùng Người-sói đã bị thôi miên bước xuống hàng ghế khán giả. Tóc hắn màu xám bẩn và hắn đi lòm khòm, những ngón tay thõng xuống tận đầu gối.
Hai người đàn bà đi sát hai bên quái nhân và luôn cảnh giác mọi người giữ yên lặng. Họ cho phép
khán giả, nếu muốn, có thể vuốt ve hắn, nhưng phải hết sức nhẹ nhàng. Khi quái nhân đi qua,
Steve đưa tay vuốt. Tôi không dám, vì sợ bị cắn, nếu hắn bất ngờ tỉnh lại. Tôi thì thầm hỏi:
- Cảm giác ra sao, Steve?
Nó đưa ngón tay lên hít, thì thầm lại:
- Lông nó nhọn như lông nhím. Mùi kỳ lắm, như mùi cao su cháy.
Người-sói và hai người đàn bà đi gần tới hàng ghế giữa rạp, thình lình, RẦM, một tiếng động lớn. Tôi không biết nguyên nhân tiếng động từ đâu. Nhưng Người-sói bắt đầu gầm rú, xô đẩy hai
người đàn bà khỏi hắn.
Khán giả kêu gào, những người ngồi gần Người-sói, nhảy khỏi ghế để chạy. Một bà chạy không kịp, bị quái nhân vật ngã xuống sàn. Bà ta gào khóc, nhưng không ai ra tay tiếp giúp. Quái nhân lật ngửa người đàn bà, nhe hàm răng nhọn hoắt. Bà ta đưa tay lên, đẩy hắn ra. Người-sói ngoặm một miếng, bàn tay bà ta bị đứt rời.
Mấy người chết ngất, những người khác gào khóc chen lấn nhau mà chạy. Rồi, không biết từ đâu,
ông Cao xuất hiện ngay phía sau Người-sói và ôm chặt lấy hắn. Người-sói chống cự lại. Nhưng
ông Cao thì thầm mấy câu vào tai hắn, làm hắn dịu lại. Trong khi ông Cao dắt Người-sói trở lên sân
khấu, hai người đàn bà của gánh xiếc trấn anh và kêu gọi khán giả trở lại chỗ ngồi.
Khán giả còn đang phân vân, người đàn bà bị cắn đứt bàn tay tiếp tục khóc la. Máu ròng ròng nhỏ ra
từ cổ tay cụt. Tôi và Steve há hốc miệng, vừa nhìn trừng trừng vừa tự hỏi, liệu bà ta có chết không.
Ông Cao từ trên sân khấu xuống, nhặt bàn tay của người đàn bà lên và huýt lớn một tiếng. Hai
người mặc áo xanh, mũ vải trùm kín đầu mặt, chạy tới. Họ bé tí xíu, nhỏ hơn tôi và Steve nhiều, nhưng tay chân rất lực lưỡng. Ông Cao dựng người đàn bà ngồi dậy, thì thầm mấy câu với bà ta. Bà nín khóc, ngồi im lặng.
Ông Cao cầm cổ tay bà, rồi lấy từ trong túi ra một túi da nhỏ, màu nâu. Ông mở túi, rắc một thứ bột màu hồng lên cổ tay bị thương. Ông gắn bàn tay bị rụng vào cổ tay rướm máu, rồi gật đầu với hai người trùm đầu, mặc đồ xanh. Họ lấy ra hai cây kim và một đống dây màu cam. Và rồi, trước sự kinh ngạc của mọi người, họ bắt đầu khâu bàn tay vào cổ tay.
Suốt thời gian năm, sáu phút, những mũi kim liên tục lùa qua thịt, người đàn bà không hề tỏ ra đau đớn. Khâu xong, hai người đó thu dọn kim và chỉ thừa, rồi rút lui. Với những chiếc mũ trùm đầu không một lần được vén lên, thật tình tôi không biết họ là nam hay nữ.
Ông Cao buông bàn tay bà khán giả, lùi lại một bước và nói:
- Bà cử động bàn tay đi.
Bà ta nhìn ông trừng trừng. Ông thúc giục:
- Cử động mấy ngón tay đi.
Lần này bà ta nhúc nhích thử mấy ngón tay. Các ngón tay của bà hoạt động!
Mọi người gần như nín thở. Người đàn bà nhìn lom lom mấy ngón tay, không tin đó là sự thật. Bà lại cử động mấy ngón thêm lần nữa, rồi đứng dậy, đưa cao bàn tay khỏi đầu. Bà ta lắc bàn tay thật mạnh. Người ta có thể nhìn thấy đường chỉ khâu, nhưng máu không còn chảy nữa và những ngón tay hoạt động bình thường.
Ông Cao bảo:
- Không sao đâu, chỉ sau vài ngày đường chỉ khâu sẽ nhạt dần, không còn nhìn thấy nữa. Tốt rồi đó.
- Có lẽ không tốt lắm đâu.
Một người đàn ông to béo, mặt đỏ lừ, tiến lại nói lớn:
- Tôi là chồng bà ấy. Tôi nói rằng chúng ta phải đến bác sĩ và sau đó là đến cảnh sát. Ông không thể để một con thú hoang dã như thế thoải mái trà trộn vào giữa đám đông. Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu nó cắn đứt đầu bà ấy hả?
- Thì bà ấy sẽ chết.
Nghe ông Cao bình tĩnh nói, người đàn ông to béo lồng lộn định lên tiếng, ông Cao ngăn lại:
- Khoan đã. Xin ông cho tôi biết, khi Người-sói tấn công thì ông ở đâu?
- Tôi?
- Phải, ông. Ông là chồng bà ta. Khi bà ta bị tấn công, ông ngồi ngay bên cạnh, tại sao ông không nhảy lên cứu vợ?
- À, ừ… tôi… không kịp… tôi không thể…
Dù nói gì ông chồng đó cũng không bào chữa được cho mình, vì lúc đó ông ta đã bỏ chạy, chỉ lo bảo vệ tấm thân.
Ông Cao lại nói:
- Ông nghe đây, tôi đã có lời cảnh báo rất rõ ràng. Tôi đã nói, buổi trình diễn này có thể xảy ra nguy hiểm. Đây không phải một gánh xiếc an toàn, không có sự cố xảy ra. Rất có thể xảy ra những sai lầm, gây nên những hiểm họa còn thảm hại hơn chuyện của vợ ông. Đó là lý do chúng tôi phải trình diễn tại một rạp hát cũ kỹ vào lúc nửa đêm. Hầu hết những buối diễn đều tốt đẹp, không ai bị thương. Nhưng chúng tôi không thể bảo đảm cho sự an toàn tuyệt đối.
Nói xong, ông ta quay một vòng nhìn thẳng mắt mọi người, nói lớn:
- Chúng tôi không thể bảo đảm an toàn cho bất cứ ai. Một tai nạn tương tự rất có thể xảy ra. Một lần nữa, tôi nói lại, nếu quý vị sợ. Hãy ra về. Ra khỏi đây ngay, trước khi quá muộn.
Một vài người bỏ về, nhưng đa số ở lại, kể cả người đàn bà suýt mất bàn tay. Tôi hỏi Steve, hy vọng nó đồng ý, vì tôi thích thật nhưng cũng sợ… thật:
- Chúng mình về nhé?
- Điên à. Quá tuyệt vời mà bỏ về sao được. Cậu muốn về hả?
- Đời nào.
Tôi nói cứng và cố nở nụ cười đầy… can đảm.
Phải chi tôi không sợ mang tiếng hèn nhát, phải chi tôi ra về, thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp biết bao.
Nhưng không, trời ạ, tôi lại muốn tỏ ra là một người đã lớn, ngồi ì tại đó xem cho tới màn cuối
cùng. Phải chi bạn biết đã bao lần tôi định bỏ chạy thật nhanh ra khỏi nơi đó và không bao giờ nhìn
lại…
CHƯƠNG MƯỜI
Ngay sau khi ông Cao rời sân khấu và khán giả ổn định lại chỗ ngồi, quái thứ hai, Alexander
Xương-sườn, xuất hiện. Ông ta giống một diễn viên hài hơn là một quái nhân có thể làm người ta
sợ. Thật ra, khán giả cũng đang rất cần điều này, để tinh thần bớt căng thẳng vì màn khai mạc quá
hãi hùng. Vô tình quay lại nhìn phía sau, tôi thấy hai người trùm mũ vải xanh đang quỳ lau máu trên
sàn rạp.
Chưa bao giờ tôi thấy một người gầy nhom gầy nhắt như Alexander Xương-sườn. Ông ta đúng là một bộ xương biết đi, dường như không có một chút xíu thịt nào. Nếu không nhờ cái cười rộng ngoác đầy thân thiện, trông ông ta cũng dễ sợ lắm.
Alexander Xương-sườn nhảy quanh sân khấu theo một điệu nhạc vui. Thân hình toàn xương với xẩu như thế mà lại tròng vào bộ đồ của người múa ba-lê, trông “quái” không chịu nổi, làm khán giả không thể nhịn cười. Sau màn múa, ông ta tuyên bố tiếp theo sẽ là tiết mục chính, đúng sở trường, vì ông ta vốn là một diễn viên uốn dẻo.
Trước hết ông ta bật hẳn đầu ra sau, trông như cái đầu bị cắt chỉ còn dính chút da gáy. Quay mình lại, ông ta để khán giả chỉ nhìn thấy khuôn mặt lộn ngược trên lưng, rồi ngả người cho tới khi cái đầu chạm sàn sân khấu. Sau đó, hai tay luồn dưới chân, ông ta kéo cái đầu ra trước, bây giờ cái đầu như mọc ra từ bụng.
Khán giả vỗ tay rần rần. Alexander Xương-sườn bèn đứng thẳng dậy, bắt đầu uốn éo thân mình, như một cọng rơm uốn mình trong gió. Thân thể ông ta quay vù vù từ phải qua trái, rồi lại từ trái sang phải. Xương cốt của ông ta bật kêu răng rắc.
Tiếp theo, ông ta cầm lên hai dùi trống. Gõ một chiếc dùi lên xương sườn, trong khi miệng há, phát
ra một âm điệu như tiếng dương cầm. Gõ dùi lên sườn bên kia, lần này âm thanh phát ra lớn hơn,
cao hơn.
Rồi ông ta bắt đầu hát, bài Cầu Luân Đôn Đang Sụp Đổ, mấy bài của Beatles và những âm điệu của một số chương trình TV đang nổi tiếng.
Khi ông rời sân khấu, khán giả la thét đòi ông ta trở lại. Nhưng không một quái nhân nào trình diễn
hai lần.
Sau đó là phần trình diễn của Rhamus Hai-bụng. Alexander gầy bao nhiêu thì Rhamus béo bấy nhiêu. Ông ta đồ sộ tới mức, mỗi bước đi làm ván sàn diễn rên lên kẽo kẹt.
Tiến gần sát mí sân khấu, ông Hai-bụng giả bộ suýt ngã nhào xuống, làm những khán giả trên mấy hàng ghế đầu khiếp đảm rú lên. Nếu thân hình hộ pháp đó lăn đùng xuống thật, không ít vị khán giả sẽ bẹp dí như… con tép.
Trái với thân hình “bé bự”, giọng ông nhỏ nhẹ dễ thương:
- Xin chào. Tên tôi là Rhamus Hai-bụng. Vì tôi thật sự có hai cái bụng từ lúc được sinh ra. Các bác sĩ đã sững sờ và tuyên bố tôi là một… quái nhân. Đó là lý do vì sao tôi gia nhập gánh xiếc và có mặt tại đây đêm nay.
Hai người đàn bã đã thôi miên Người-sói tiến ra cùng hai xe đẩy chất đầy đồ ăn: bánh ngọt, bánh nhân thịt, kẹo, cái bắp…
Rhamus chóp chép miệng, chỉ cái đồng hồ vừa được thả xuống, lửng lơ giữa sân khấu, bằng một
sợi dây.
- Quý vị thử đoán xem, phải cần bao nhiêu thời gian để tôi ăn hết hai xe đồ ăn này. Một phần thưởng sẽ dành cho khán giả nào dự đoán gần đúng nhất.
Từ đám đông la lên những lời đoán:
- Một giờ.
- Bốn mươi lăm phút.
- Hai giờ, mười phút, ba mươi ba giây.
Tôi đoán một giờ ba phút, còn Steve bảo hai mươi chín phút. Một người đưa ra con số thấp nhất là mười bảy phút.
Khi tất cả khán giả đã đưa ra lời đoán xong, đồng hồ khởi động và Rhamus bắt đầu ăn. Ông ta ăn vèo vèo như gió. Hai bàn tay làm việc liên tục. Dường như miệng ông ta không hề khép lại. Ông ta tống đồ ăn vào miệng và nuốt.
Tất cả khán giả bàng hoàng kinh ngạc. Nhìn ông ta ăn mà tôi gần như phát bệnh. Một số người quanh tôi thì lên cơn bệnh thật sự.
Sau cùng, Rhamus thanh toán đến cái bánh cuối cùng và đồng hồ ngừng lại.
Bốn phút năm mươi sáu giây! Không cần tới 5 phút để “tém gọn” lượng đồ ăn khổng lồ như thế!
Rhamus hoan hỉ nói:
- Ngon lắm. Nhưng tôi còn có thể dùng chút món tráng miệng nữa.
Tiếng vỗ tay, tiếng cười vang khắp rạp. Hai người đàn bà lại đẩy ra một xe lỉnh kỉnh tượng thủy tinh, muỗng, nĩa, bình kim loại. Rhamus nói:
- Trước khi bắt đầu, tôi xin cảnh giác quý vị đừng thử làm trò này tại nhà. Vì tôi có thể ăn những
thứ có thể làm người bình thường chết nghẹn. Đừng bắt chước tôi, bắt chước tôi các bạn sẽ bị
chết đấy.
Đầu tiên ông ta xơi món bù loong, đinh ốc. Sau khi làm sạch mấy vốc đầy, Rhamus lắc mạnh cái
bụng căng tròn và chúng tôi nghe rõ tiếng kim loại va vào nhau, lẻng kẻng trong bụng ông ta.
Nếu chỉ là một vài con ốc, cái đinh, tôi sẽ nghĩ là ông ta giấu dưới lưỡi hay hai bên má. Nhưng đằng này, cả một đống bù loong, con tán làm sao giấu được trong mồm.
Sau đó ông ta bắt đầu xơi món tượng thủy tinh. Rhamus nhai rào rạo thủy tinh rồi chiêu với nước! Món tiếp theo là muỗng nĩa. Dùng tay bẻ tròn những vật bằng kim loại này, rồi ông ta bỏ lọt thỏm vào miệng mà nuốt. Vì, ông ta bảo, răng không đủ mạnh để nhai kim loại. Khiếp chưa!
Hít mạnh một hơi, cái bụng ông ta phồng to, rung lên bần bật. Tôi không hiểu đang xảy ra chuyện gì, rồi ông Hai-bụng thở phì một tiếng, tôi thấy đầu một sợi dây ló ra từ miệng ông ta.
Sợi dây từ từ ra khỏi miệng, kéo theo muống nĩa cuốn quanh. Rhamus đã thắt nút sợi dây vào những vật đó từ… trong bụng! Thật không thể nào tin nổi!
Khi Rhamus rời sân khấu, tôi tưởng không còn mành trình diễn nào sau đó có thể hấp dẫn hơn.
Nhưng tôi đã lầm.
CHƯƠNG MƯỜI MỘT
Sau màn trình diễn của Rhamus Hai-bụng, một đội mặc bộ đồ xanh, mũ vải trùm kín đầu đi quanh khán giả bán đồ lưu niệm. Có nhiều món rất tuyệt, như bù loong, đinh ốc bằng sô-cô-la. Búp bê Alexander Xương sườn bằng cao su, có thể uốn cong hay kéo ra dài nhằng. Tôi mua một nhúm lông của Người-sói, cứng và sắc như dao.
Từ trên sân khấu, ông Cao lên tiếng:
- Quý vị đừng vội tiêu hết tiền, vì sẽ còn nhiều món quà đầy hấp dẫn khác nữa.
- Tượng thủy tinh giá bao nhiêu?
Steve hỏi người bán hàng. Đó là bức tượng giống bức tượng ông Hai-bụng đã ăn. Người bán hàng trong cái mũ vải trùm kín đầu lẳng lặng đưa ra bảng giá. Nhưng Steve bảo:
- Tôi không biết đọc.
Tôi nhìn nó lom lom, không hiểu vì sao nó nói láo. Người bán hàng vẫn chỉ im lặng lắc đầu, rồi vội bước đi trước khi Steve hỏi tiếp. Tôi hỏi nó:
- Cậu làm trò gì vậy?
- Tớ muốn nghe nó nói, để xem nó có phải là người không.
- Chẳng là người thì là gì. Hâm!
- Không biết tao mới hỏi. Mày không lấy làm lạ, mặt mũi tụi nó che kín mít sao?
- Biết đâu vì người ta mắc cỡ.
- Có thể.
Sau khi những người bán hàng lưu niệm rút lui, tới màn trình diễn của người đàn bà có râu. Thoạt tiên, tôi tưởng chỉ là một trò khôi hài. Vì đó là một cô gái hoàn toàn… không có râu.
Ông Cao đứng sau cô gái, lên tiếng:
- Thưa quý vị, đây là một màn trình diễn rất đặc biệt. Cô Truska đây là một thành viên mới trong
gia đình chúng tôi. Một diễn viên ấn tượng nhất mà tôi chưa từng gặp, với một tài năng vô cùng
độc đáo.
Ông Cao rút lui, nhường sàn diễn cho cô Truska. Cô ta rất đẹp trong bộ váy dài màu đỏ, với nhiều
nếp xếp và… khoảng trống. Rất nhiều quý ông trong khán phòng khúng khắng ho, trở mình trên
ghế.
Truska tiến sát lề sân khấu, để khán giả nhìn rõ hơn sắc đẹp của cô, rồi cô nói mấy câu, nghe như tiếng kêu của loài hải cẩu. Sau đó cô Truska đặt tay lên hai má, xoa nhè nhẹ. Rồi, hai ngón tay bóp mũi, tay kia gãi cằm.
Và, điều kỳ lạ xuất hiện: những sợi râu… tua tủa mọc ra! Trước hết là râu cằm, rồi ria mép, râu hàm. Sau cùng, tất cả khuôn mặt cô ta bao quanh bằng một bộ râu vàng, dài và thẳng.
Bộ râu mọc dài chừng mười xăng-ti-mét thì ngừng lại. Cô Truska buông những ngón tay bịt mũi, bước xuống khán phòng để khán giả vuốt ve hay kéo giật bộ râu.
Lúc này, khi cô ta đi quanh khán giả, bộ râu lại tiếp tục mọc dài thêm tới… tận bàn chân. Gần tới cuối khán phòng, cô quay lại, trở lên sân khấu. Dù không có chút gió trong gian phòng kín này, tóc Truska tung bay, chạm nhẹ vào má những khán giả ngồi gần lối cô ta đi qua.
Khi cô ta trở lại sân khấu rồi, ông Cao tiến ra hỏi có khán giả nào mang theo kéo không? Nhiều bà giơ tay. Ông mời mấy bà lên sân khấu và nói:
- Gánh Xiếc Quái Dị chúng tôi sẽ tặng một thỏi vàng ròng cho vị khán giả nào có thể cắt đứt được râu của cô Truska.
Ông ta đưa cao một nén vàng để chứng tỏ là một chuyện nghiêm túc.
Khán phòng xôn xao huyên náo hẳn lên. Gần như hầu hết khán giả đều thử tài, nhưng không ai thành công, kể cả khi ông Cao đem ra một cái kéo làm vườn to đùng. Điều kỳ lạ là râu cô ta cũng mềm mại như mái tóc thướt tha của cô ta vậy.
Sau khi khán giả chấp nhận thất bại và ông Cao rời sân khấu, cô Truska lại bịt mũi và vuốt ve hai má: bộ râu từ từ rút ngắn và chỉ trong hai phút bộ râu hoàn toàn biến mất. Trông cô lại xinh đẹp như lúc mới bước ra chào khán giả. Cô rút lui trong tiếng cổ vũ hoan hô náo nhiệt.
Ngay sau đó là màn trình diễn của Hans Tay-thần.
Tay-thần bắt đầu bằng câu chuyện về người cha. Cha ông ta sinh ra đã không có chân. Ông cụ phải tập đi bằng tay và đôi tay được sử dụng hiệu quả như đôi chân bình thường của những người khác. Và ông cụ đã dạy các con bí quyết này.
Sau đó Hans Tay-thần ngồi xuống, kéo hai chân cuốn quanh cổ. Ông ta đứng bằng hai bàn tay, đi
lên đi xuống, chạy nhảy. Ông thách thức nếu ai chạy thắng, sẽ được thưởng một thỏi vàng.
Lối đi trong rạp được dùng làm đường chạy. Dù bất lợi, vì chỉ sử dụng tay, Hans đã dễ dàng vượt
lên và thắng bốn đối thủ. Không khán giả nào hồ nghi khi nghe ông ta nói, có thể vượt 100 mét
trong 8 giây bằng tay. Sau đó ông ta biểu diễn thêm mấy động tác thể dục rất tuyệt, để chứng minh
một người có thể điều khiển đôi tay trong mọi hành động mà không cần đến đôi chân.
Màn biểu diễn của Hans Tay-thần không ấn tượng đặc biệt nhưng cúng làm khán giả thích thú.
Một lát sau, ông Cao trở lại sân khấu:
- Thưa quý vị, tiếp theo cũng lại sẽ là một màn độc đáo và khó khăn. Đây cũng sẽ là một màn đầy
nguy hiểm, vì vậy yêu cầu quý vị giữ im lặng, đừng vỗ tay, cho tới khi chúng tôi thông báo là đã an
toàn.
Sau những gì xảy ra trong màn diễn của Người-sói, không ai cần phải nhắc nhở đến lần thứ hai. Tất cả đều ngồi im thin thít.
Khi tất cả đã hoàn toàn yên lặng, ông Cao vừa lui vào vừa nhẹ nhàng gọi:
- Xin mời, ông Crepsley và quý bà Octa.
Ánh sáng mờ dần. Một người đàn ông lừ đừ bước ra sân khấu. Ông ta cao, gầy khẳng khiu, da
trắng nhợt, trên đỉnh đầu chỉ có một chỏm tóc màu da cam. Bên má trái ông ta, có một cái sẹo chạy dài xuống tận môi, làm miệng ông kéo xếch lên một bên mặt.
Trong bộ áo màu đỏ, ông Crepsley xách một cái lồng nhỏ đặt lên bàn, rồi quay lại cúi đầu, cười với khán giả. Ông ta đừng cười trông còn đỡ sợ hơn. Trông ông Crepsley như một gã hề điên trong một phim kinh dị tôi đã từng xem.
Tôi bỏ lỡ không nghe những lời ông ta nói, vì mải nhìn thằng Steve. Bạn biết sao không? Ông Crepsley vừa bước ra, tất cả đều im lặng, trừ một người ồ lên kinh ngạc.
Người đó là Steve!
Tôi nhìn thằng bạn tôi lom lom. Nó trắng nhợt ra, gần như ông Crepsley, và toàn thân run rẩy. Thậm chí nó còn làm rơi búp bê Alexander Xương-sườn mà nó mới mua.
Mắt nó như dán vào ông Crepsley. Nhìn nó đang trừng trừng ngó con người quái dị kia, tôi không thể ngăn mình nghĩ là… nó vừa trông thấy ma.
CHƯƠNG MƯỜI HAI
Tôi căng mắt, vừa nhìn Steve vừa liếc lên sân khấu nhìn ông Crepsley đang nói:
- … Thật ra, không phải tất cả loài nhện tarantula đều có nọc độc. Hầu hết chúng đều vô hại như những con nhện chúng ta thường thấy trên khắp thế giới này. Kể cả những con có nọc độc, thì nọc độc đó cũng chỉ đủ giết những sinh vật rất nhỏ bé. Nhưng có vài giống thật sự nguy hiểm, có thể giết một mạng người với chỉ một nhát cắn. Giống này rất hiếm, chỉ có thể tìm thấy tại những vùng hoang dã, xa xôi. Tôi có một con nhện như thế.
Ông ta vừa nói vừa mở cửa lồng. Mấy giây sau, một con nhện từ từ bò ra. Chưa bao giờ tôi thấy
một con nhện to đến thế. Nó có ba màu: xanh lục, tím và đỏ. Chân dài đầy lông và thân hình mập ú. Tôi không hề sợ nhện, nhưng con này trông khủng khiếp thật.
Con nhện chầm chậm tiến tới, rồi nó quị chân, hạ thấp mình, như sửa soạn bay.
Ông Crepsley nói tiếp:
- Quý bà Octa đây đã ở với tôi nhiều năm rồi. Octa sống lâu hơn những con nhện bình thường
nhiều. Vị tu sĩ bán Octa cho tôi đã bảo giống này sống tới hai mươi, ba mươi năm. Quý bà Octa là một sinh vật khác thường, vừa có nọc độc vừa thông minh.
Trong khi ông nói, một người áo xanh trùm kín đầu dắt ra một con dê. Con dê hoảng sợ rống lên, tìm đường chạy. Người áo xanh buộc nó vào chân bàn, rồi lui vào sau cánh gà.
Nhìn và nghe thấy tiếng be be của con dê, con nhện to lớn gớm ghiếc lần mò ra mép bàn, rồi ngừng lại như chờ lệnh. Ông Crepsley lấy từ túi quần ra một cái còi nhỏ - nhưng ông gọi là ống sáo - thổi lên vài âm ngắn. Lập tức, quý bà Octa nhảy vọt xuống cổ con dê.
Con vật lồng lên, be be thảm thiết. Quý bà Octa bình thản bò lên gần đầu con dê vài phân. Rồi nó
nhe nanh, cắm phập vào cổ con dê đang hoảng loạn. Con vật như bị đóng băng, đứng sững. Vài
giây sau nó mới lăn đùng xuống sàn. Tôi tưởng nó chết rồi, nhưng nhìn kỹ, tôi thấy nó vẫn còn thoi
thóp thở.
Ông Crepsley vung vẩy cái còi, nói:
- Tôi điều khiển quý bà Octa bằng ống sáo này. Mặc dù đã cùng cộng tác với nhau một thời gian
lâu dài, nhưng Octa sẽ giết tôi ngay, nếu tôi mất ống sáo. Con dê này chỉ bị hôn mê. Tôi đã huấn
luyện Octa không được hạ thủ ngay từ nhát cắn đầu tiên. Tất nhiên con dê rồi cũng sẽ chết - khi
Ocat đã cắn, không cách nào chữa trị được - và bây giờ chúng tôi sẽ giúp cho nó chết thật nhanh.
Ông ta thổi sáo. Quý bà Octa di chuyển lên tới tai con dê, nhe nanh cắn. Con dê nhẹ rùng mình, rồi hoàn toàn bất động. Lần này nó chết thật.
Bà Octa nhảy xuống sàn tiến ra sát sân khấu. Một số ngồi hàng ghế đầu hốt hoảng nhảy dựng lên. Nhưng họ đờ người khi ông Crepsley rít lên nho nhỏ:
- Đừng nhúc nhích. Chỉ gây một tiếng động là chết đấy.
Octa ra tới sát mí sân khấu, rồi đứng dựng lên bằng hai chân sau, giống như một con chó đứng hai chân. Nghe tiếng còi nhè nhẹ của ông Crepsley con nhện từ từ bước giật lùi, vẫn bằng hai chân sau. Khi tới sát chân bàn, nó quay lại, leo lên.
- Bây giờ quý vị được an toàn rồi. Nhưng nhớ đừng gây tiếng động lớn nào. Vì nếu quý vị làm thế, Octa sẽ tấn công tôi.
Nghe ông ta nói, những người trên hàng ghế trước rón rén ngồi xuống.
Tôi không biết ông ta sợ thật, hay chỉ là một cách diễn cho thêm phần hồi hộp, nhưng trông ông có vẻ rất căng thẳng. Lau mồ hôi trán bằng tay áo, rồi ông ta mới đưa còi lên miệng, thổi lên một âm thanh nho nhỏ.
Quý bà Octa lắc lư, rồi như quyết định, gật mạnh đầu. Con nhện bò đến trước mặt ông Crepsley.
Ông ta hạ thấp bàn tay phải, cho nó bò lên cánh tay ông. Ý nghĩ những cái chân lông lá, dài thòng bò trên da thịt ông ta làm tôi toát mồ hôi.
Bò hết cánh tay, con nhện mon men lên vai, bò qua mặt bên kia, bò qua cái sẹo, cho đến khi bám ngược đầu trên cằm ông ta. Rồi con nhện nhả một sợi tơ và buông mình theo sợi tợ đó.
Lửng lơ dưới cằm ông ta chừng mười phân, con nhện đánh đu qua lại. Rồi nó tung mình đu lên cao
ngang tầm tai ông. Các chân nó cụp lại. Từ chỗ tôi nhìn lên, con nhện giống như một cuộn len.
Trong khi con nhện đánh đu lên, ông Crepsley ngửa đầu ra sau, nó nhào lên lộn xuống trong khoảng
không. Tôi tưởng nó sẽ rớt xuống mặt bàn, nhưng không, trái lại, nó hạ mình lên miệng ông
Crepsley!
Tôi hết vía vì tưởng nó sẽ trôi tuột vào cổ họng, vào bụng và cắn chết ông ta. Nhưng nó khôn hơn
tôi nghĩ nhiều. Khi rơi nhiều, nó xòe rộng những cái chân dài, bám lấy vành môi của ông Crepsley.
Ông ta cúi đầu về phía trước, để khán giả có thể nhìn thấy mặt. Miệng ông ta mở rộng, quý bà Octa nằm gọn trong đó. Thân mình con nhện phồng lên xẹp xuống cứ như ông ta đang thổi một quả bóng vậy.
Tôi tự hỏi cái còi đâu rồi và với tình trạng kia làm sao ông ta điều khiển được bà Octa?
Đúng lúc đó ông Cao xuất hiện, tay cầm một cái còi khác. Ông thổi không điệu nghệ bằng ông
Crepsley nhưng cũng đủ để sai khiến con nhện. Nó lắng nghe rồi di chuyển từ bên này sang bên kia miệng ông Crepsley.
Tô vươn cổ cố nhìn, vì không biết con nhện định làm gì. Khi thấy những mảnh trắng nhỏ trên môi ông Crepsley tôi mới hiểu: nó đang giăng tơ.
Xong “công tác”, bà Octa lại buông mình đong đưa dưới cằm ông ta như trước. Miệng ông Crepsley đầy màng nhện. Ông ta liếm gọn những sợi tơ, nhai nhóp nhép, nuốt ngon lành rồi xoa bụng (thận trọng không đụng phải bà Octa). Ông bảo:
- Tuyệt vời. Không món gì ngon hơn tơ nhện. Ở quê tôi đây là món đặc sản cao cấp nhất.
Sau đó ông ta để con nhện lăn một quả bóng trên bàn, rồi cho nó đững giữ thăng bằng trên bóng. Ông bày ra những dụng cụ thể thao nho nhỏ. Con nhện bắt đầu biểu diễn tất cả những động tác thể dục dụng cụ của con người: nâng tạ, leo dây, nhảy xà vân vân.
Sau cùng ông ta đem ra một bộ đồ ăn tí xíu. Đầy đủ dao, muỗng nĩa, ly tách… Trên mấy cái đĩa ú ụ ruồi và những loài côn trùng chết. Tôi không biết trong ly có gì.
Quý bà Octa ăn uống thanh lịch tươm tất như… một phu nhân quý tộc. Sử dụng mỗi lần bốn chân, để cầm muỗng, nĩa, dao. Lại còn một chai muối tiêu giả, để thỉnh thoảng quý bà cầm lên, rắc đều lên đĩa đồ ăn.
Tôi nhìn con nhện cầm ly nước uống mà cứ mê đi. Tôi sẵn sàng đổi tất cả những gì tôi có, để
được làm chủ quý bà Octa. Tôi biết chuyện đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra - ba má tôi sẽ không cho tôi nuôi dù tôi có mua được con nhện này. Dù thế tôi vẫn cứ mơ ước.
Màn trình diễn chấm dứt, ông Crepsley cho con nhện vào lồng. Tiếng vỗ tay tưởng như không dứt xen lẫn những lời bình phẩm: “Giết chết con dê như thế tội nghiệp quá.” Nhưng có người lại bảo: “Như thế mới hấp dẫn chứ.”
Tôi quay lại định nói với Steve là con nhện tuyệt vời quá, nhưng nó đang hau háu nhìn ông
Crepsley. Trông nó không có vẻ sợ hãi nữa, nhưng rõ ràng nó không được bình thường. Tôi hỏi:
- Chuyện gì vậy, Steve?
Nó không trả lời.
- Steve!
Nhưng nó chỉ “suỵt” một tiếng, không nói một lời cho đến khi ông Crepsley vào khuất. Lúc đó nó mới quay sang tôi, bàng hoàng nói:
- Kỳ lạ thật!
- Con nhện chứ gì? Quá tuyệt. Mày thấy…
- Tao không nói về con nhện. Quý hóa gì con nhện già đó. Tao nói là nói về ông… Crepsley kìa.
Nó ngập ngừng trước khi gọi tên ông ta, hình như nó muốn gọi bằng một tên khác.
- Ông Crepsley thì có gì hay. Chỉ việc cầm cái còi mà thổi.
- Mày cóc hiểu gì hết. Mày cóc biết ông ta thật sự là ai.
- Còn mày thì biết?
- Đúng. Đúng là tao biết. Tao chỉ mong ông ta đừng biết là tao biết. Nếu không, chúng mình khó mà sống sót, để ra khỏi chỗ này.
CHƯƠNG MƯỜI BA
Giờ giải lao, tôi ráng hỏi Steve, thật sự ông Crepsley là ai, nhưng nó lầm lầm lì lì, chỉ bảo: “Tao đang suy nghĩ.” Rồi nó nhắm mắt, cúi đầu, mặt mày căng thẳng.
Họ bắt đầu bán thêm nhiều món quà lưu niệm rất lý thú: búp bê Hans Tay-thần, râu của người đàn bà, và nhất là những con nhện bằng cao-su giống như quý bà Octa. Tôi mua một con cho tôi, một
con cho Annie.
Tôi móc đến đồng bạc cuối cùng để mua sáu cái kẹo tơ nhện. Tôi ăn hai cái và cũng bắt chước ông Crepsley, để những sợi tơ lằng nhằng trên môi rồi liếm gọn.
Đèn tắt, khán giả trở lại chỗ ngồi.
Gertha Răng-thép tiến ra sân khấu. Đó là một người đàn bà cao lớn. Cặp đùi, hai cánh tay, cổ và đầu đều to tổ chảng. Cô ta cất tiếng oang oang:
- Thưa quý vị, tôi là Gertha Răng-thép. Tôi có những cái răng mạnh mẽ nhất thế giới. Ngày còn
nhỏ, một lần đang đùa giỡn, cha tôi đút mấy ngón tay vào miệng tôi, phập một phát, tôi cắn đứt hai ngón tay ông.
Nhiều khán giả cười hinh hích. Gertha Răng-thép trợn mắt giận dữ, quát lên:
- Nè, tôi không phải là một con hề. Rõ chưa? Ai cười nhạo tôi, tôi sẽ xuống, cắn đứt mũi ngay.
Quý vị khán giả hãi quá, không dám thở mạnh.
Cô ta quát rất to, nhưng rành mạch, nhấn nhá từng câu:
- Các nha sĩ trên thế giới đều phải sững sờ vì hàm răng của tôi. Tôi đã đi kiểm tra tại những trung tâm nha khoa hàng đầu, nhưng chưa ai khám phá ra vì sao răng tôi chắc khỏe đến như vậy. Người ta đề nghị tôi những khoản tiền kếch xù để làm vật thí nghiệm, nhưng tôi đã từ chối, vì chỉ thích chu du, không muốn bị ràng buộc với bất cứ điều gì.
Cô ta cầm lên bốn thanh thép, mỗi thanh dài khoảng 30 phân, chiều dày khác nhau, rồi kêu gọi
người tình nguyện. Bốn khán giả nam lên sân khấu. Gertha đưa cho mỗi người một thanh thép, yêu cầu họ bẻ cong. Cả bốn người đàn ông đã cố hết sức, nhưng không bẻ được.
Sau khi họ chịu thua. Cô ta cầm thanh mỏng nhất, đưa lên miệng cắn gãy làm hai, rồi đưa một nửa
thanh thép cho một người đàn ông. Đưa lên cắn thử, anh ta bỗng rú lên đau đớn vì suýt bị nứt mấy
cái răng.
Thanh thép thứ hai, thứ ba đều dày hơn thanh đầu tiên, cũng đều bị cô ta cắn làm hai. Tới thanh thứ tư, dày nhất, Gertha Răng-thép… nhai vụn thành từng mảnh, như nhai sô-cô-la!
Kế đó, hai người với bộ áo xanh trùm đầu khiêng ra một lò sưởi điện. Phập! Phập! Phập! Gertha ngoạm một đống lỗ trên thành lò sưởi. Tiếp theo, cô ta cắn một chiếc xe đạp thành từng mảnh nhỏ. Tôi nghĩ, chắc không vật gì trên đời mà Gertha không thể cắn vụn ra.
Cô ta kêu gọi thêm người tình nguyện, rồi đưa ra cho một người một cái búa nặng trịch và một cái đục lớn. Người khác được trao một cái đục và một cái búa nhỏ hơn. Còn người cuối cùng sẽ cầm một cái cưa điện.
Ngậm cái đục lớn trong miệng, cô ta nằm ngửa, gật đầu ra hiệu cho người thứ nhất hãy giáng mạnh cây búa lên cái đục.
Anh ta nâng cao cây búa, bổ xuống. Tôi tưởng anh ta sẽ đập nát mặt cô. Hầu hết khán giả đều lo sợ như tôi, nhiều người rú lên, bịt chặt mắt.
Nhưng Bertha xoay mình, cây búa đập mạnh xuống sàn. Cô ta ngồi bật dậy, phun cái đục trong miệng ra.
- Ha! Các vị tưởng tôi điên sao? Tôi chỉ muốn để quý vị thấy đây là một cái búa thật. Bây giờ, nhìn
đây.
Cô ta lại nằm xuống cắn chặt cái đục. Người mặc áo trùm xanh giơ cao cây búa, bổ xuống, nhanh
và mạnh hơn người khán giả đã làm. Cây búa chạm và đầu đục làm vang lên một âm thanh chát
chúa.
Cô ta ngồi dậy. Tôi tưởng cô sẽ phun ra cả đống răng. Nhưng cô ta bình thản mở miệng, lấy cây đục ra và nhoẻn cười.
Đến lượt người tình nguyện thứ hai, Gertha chỉ lưu ý anh ta phải thận trọng với nướu của cô, rồi để anh ta tự chọn vị trí đặt mũi đục trên răng mà… thoải mái đục! Anh chàng đập rã rời tay, nhưng răng của Gertha không hề xuy xuyển.
Người tình nguyện thứ ba hì hục với cái cưa máy, mũi cưa xoèn xoẹt trên răng chỉ làm tóe ra những đốm lửa. Gertha lại nhoẻn cười, khoe hàm răng trắng nõn.
Tiếp theo Gertha Răng-thép là phần trình diễn của chị em sinh đôi Sive và Seersa. Hai chị em giống hệt nhau và biểu diễn uốn dẻo như Alexander Xương-sườn. Nhưng hai thân hình xoắn lấy nhau, nhiều lúc trông như một người có hai mặt, trước và sau. Cặp này rất khéo léo, đầy tài năng, nhưng so sánh với những màn trước thì hơi nản.
Sive và Seersa vừa lui vào, ông Cao bước ra sân khấu cám ơn thịnh tình khán giả đã dành cho gánh xiếc của ông. Ông cũng lưu ý khán giả, nếu muốn, có thể mua thêm đồ lưu niệm tại phía sau khán phòng. Yêu cầu khán giả giới thiệu với bạn bè. Ông cám ơn thêm một lần nữa và tuyên bố buổi trình diễn đã kết thúc.
Tôi hơi thất vọng, vì phần kết thúc có vẻ tẻ nhạt quá. Nhưng có lẽ vì đã quá muộn và các diễn
viên quái dị đã thấm mệt. Tôi đứng dậy, thu nhặt những gì đã mua, rồi quay lại nói chuyện với
Steve.
Nó đang nhìn qua vai tôi, lên phía ban-công, hai mắt trợn trừng. Tôi quay vội về hướng nó đang nhìn. Ngay lúc đó những người quanh tôi bắt đầu gào thét. Ngước lên, tôi mới hiểu vì sao.
Từ trên ban-công, một con rắn khổng lồ, dài thậm thượt, đang trườn mình theo một cây cột, bò xuống phía khán giả!
CHƯƠNG MƯỜI BỐN
Con rắn liên tục thè thụt cái lưỡi như đang thèm ăn lắm. Thật tình, tôi thấy nó chẳng đẹp tí xíu
nào, toàn một màu xanh đen, loáng thoáng vài đốm màu sáng hơn một chút. Nhưng phải công nhận, trông nó… khủng khiếp thật.
Những người đứng dưới ban công hấp tấp chạy về chỗ ngồi. Vừa chạy họ vừa la thét, buông ráo những gì cầm trong tay. Có người ngất xỉu, có người ngã té và bị người khác đạp lên. May mắn là tôi và Steve ở phía trên, nếu không hai thằng nhỏ nhất đám như chúng tôi chắc chắn bị đám đông dẫm đạp nhừ tử rồi.
Con rắn gần xuống tới sàn, bỗng một ngọn đèn cực sáng rọi ngay mặt, làm nó khựng lại, nhìn
thẳng nguồn sáng không chớp mắt. Mọi người bớt sợ, không còn chạy nữa. Những người bị ngã, đứng dậy. Rất may, không ai bị thương nặng.
Sau chúng tôi có tiếng động. Mọi người quay vội lại. Một cậu bé đang đứng trên sân khấu. Cậu ta chừng 14 hay 15 tuổi, gầy nhom, tóc màu vàng chanh, hai mắt hi hí như mắt rắn. Cậu bé đó khoác một áo choàng dài màu trắng.
Huýt lên như rắn, cậu ta giơ cao hai tay khỏi đầu. Cái áo choàng rơi xuống. Khán giả ồ lên kinh ngạc. Toàn thân cậu phủ bằng những cái vẩy.
Từ đầu đến ngón chân lóng lánh màu xanh lá, vàng, vàng kim và xanh dương. Cậu ta chỉ mặc một quần đùi nhỏ. Cậu bé quay mình lại, để tất cả nhìn thấy phía sau cũng giống như phía trước, chỉ trừ vài vệt thẫm màu hơn.
Rồi cậu ta quay lại nhìn chúng tôi, nằm xấp xuống, trườn mình trên sàn, y chang một con rắn. Lúc đó tôi chợt nhớ tới tờ quảng cáo: đúng đây là cậu bé rắn rồi.
Trườn xuống sàn khán phòng, cậu ta đứng dậy, bước về cuối rạp. Khi cậu ta đi qua, tôi thấy những ngón chân, ngón tay của cậu ta thật kỳ lạ. Chúng dính vào nhau bằng một lớp da mỏng. Trông cậu ta giống con quái vật sống trong hồ nước đen của một phim kinh dị.
Tới cách cái cột chừng vài mét, cậu ta phủ phục xuống. Nguồn sáng, làm lóa mắt con rắn, bắt đầu
chuyển động, rọi xuống chân cột. Cậu bé lại huýt lên mấy tiếng, con rắn như lắng nghe. Tôi nhớ
đã đọc câu đó, rắn không thể nghe, nhưng cảm thấy được âm thanh. Cậu ta quẫy nhẹ mình sang
phải, rồi sang trái. Đầu con rắn di chuyển theo, nhưng không phóng tới. Cậu bé bò lại gần hơn, tới
đúng tầm của con rắn. Tôi suýt la lên, để bảo cậu ta chạy đi, vì sợ con rắn tấn công và giết chết
cậu.
Nhưng cậu bé rắn biết mình đang làm gì. Tới sát con rắn, cậu ta đưa những ngón tay dính màng vào nhau, vuốt ve dưới cằm con vật. Rồi… cúi xuống hôn lên mũi nó!
Con rắn cuốn quanh cổ cậu ta. Nó cuốn thêm mấy vòng, rồi thả cái đuôi thõng qua vai như một tấm khăn choàng.
Cậu bé rắn vừa vuốt ve nó vừa mỉm cười. Tôi tưởng cậu ta sẽ đi vòng quanh khán giả để mọi
người sờ thử vào con rắn. Nhưng cậu ta tiến tới một khoảng trống, gỡ con rắn, đặt xuống sàn, rồi lại vuốt ve dưới cằm nó.
Lần này con rắn há rộng mồm. Tôi nhìn rõ những cái nanh của nó. Nằm cách xa nó một chút, cậu ta bắt đầu uốn vặn thân mình tiến lại gần con rắn.
Tôi kêu thầm:
- Ôi! Không! Chắc cậu ta sẽ không…
Nhưng cậu ta làm thật! Cậu ta chui tọt đầu vào mồm con rắn đang há hốc.
Mấy giây sau cậu bé rắn mới lấy đầu ra khỏi miệng con vật. Một lần nữa, cậu ta lại cuốn con rắn quanh mình, rồi lăn vòng vòng cho tới khi con rắn phủ khắp toàn thân, chỉ chừa lại cái mặt. Ráng đứng dậy, mỉm cười, trông cậu ta như một tấm thảm cuốn tròn.
Từ trên sân khấu, ông Cao lên tiếng:
- Và thưa quý vị, đó mới chính là phần kết thúc thực sự của chương trình đêm nay.
Ông mỉm cười, vọt nhảy khỏi sân khấu, biến vào khoảng không đầy khói. Khi khói tan, tôi đã lại thấy ông đứng nơi cuối rạp, tay vén tấm màn che cửa.
Hai bên ông là những người đàn bà xinh đẹp và những người nhỏ bé mặc áo xanh phủ kín đầu. Trên tay họ là những cái khay bán đồ lưu niệm. Rất tiếc là túi tôi đã rỗng không.
Tôi ôm những món tôi và Steve đã mua. Nhìn vẻ mặt khó đăm đăm của nó, tôi biết tốt nhất là đừng hỏi han gì. Tôi có thừa kinh nghiệm mỗi khi nó nổi cơn khùng rồi.
Ông Cao tươi cười chào mọi người. Khi tôi và Steve đi qua, ông cười thoải mái hỏi:
- Sao? Hai em thích chứ?
Tôi nói:
- Thật phi thường.
- Không sợ sao?
- Một tí thôi, nhưng không sợ hơn những người khác đâu ạ.
Ông ha hả cười:
- Hai em gan dạ lắm.
Chúng tôi vội đi để nhường lối cho những người đằng sau. Khi vào hành lang nhỏ, giữa hai tấm màn, Steve ngó dáo dác chung quanh, rồi thì thầm vào tai tôi:
- Mày về một mình đi.
- Cái gì?
- Mày nghe rõ rồi mà.
- Nhưng sao tao phải về một mình?
- Vì tao chưa về. Tao ở lại. Chưa biết mọi chuyện sẽ xảy ra như thế nào, nhưng tao ở lại. Tao sẽ về nhà sau khi tao…
Nó ngập ngừng rồi kéo tôi đi.
Chúng tôi qua tấm màn thứ hai, nơi có cái bàn dài, phủ vải đen sát đất. Những người đi trước quay
lưng lạ hai đứa tôi. Steve thận trọng nhìn phía sau, khi không thấy ai, nó chui tọt vào gầm bàn.
- Steve!
Tôi rít lên, chỉ sợ nó lại gây rắc rối. Nó rít lại:
- Đi đi.
- Nhưng cậu không thể…
- Làm theo lời tao. Mau, đi đi, họ bắt cả hai bây giờ.
Tôi không muốn, nhưng biết làm sao được. Có vẻ như Steve lại sắp nổi cơn điên, nếu tối không làm theo ý nó.
Tôi đành bước đi, rẽ sang hành lang dài, dẫn đến cửa chính. Vừa đi chầm chậm vừa suy tính. Phía trước tôi, mọi người đi đã xa. Phía sau, chưa thấy ai ra tới.
Tôi ngừng trước một cái cửa. Đây là nơi Steve đã dòm ngó, khi chúng tôi mới vào rạp: cái cửa dẫn lên ban-công. Tôi kiểm tra phía sau lần nữa. Không thấy ai. Tôi tự nhủ:
- Tốt rồi. Mình sẽ núp trong này. Chẳng biết Steve định làm gì, nhưng nó là bạn mình, nếu có gì xảy ra, mình còn có thể kịp thời giúp nó.
Tôi mở cửa, lách vội vào, rồi nhẹ nhàng khép lại. Đứng trong bóng tối, trống ngực tôi đập thùm
thùm.
Tôi cứ đứng như thế thật lâu, lắng nghe những khán giả cuối cùng ra khỏi rạp. Tiếng họ rì rầm bàn tán e dè, sợ hãi, sôi nổi. Khi hoàn toàn yên tĩnh trở lại, tôi tưởng sau đó sẽ nghe tiếng dọn dẹp, thu xếp… Nhưng toàn thể ngôi nhà im ắng như trong nghĩa địa.
Tôi lên cầu thang. Mắt tôi đã quen dần với bóng tối. Chiếc cầu thang cũ kỹ, ọp ẹp. Mỗi bước, tôi đều lo nó gãy và quăng tôi xuống, chết như cậu bé bị ngã ngày nào.
Lên tới cầu thagn, tôi thấy mình đang ở chính giữa một ban công bẩn thỉu, đầy bụi đất và lạnh lẽo. Tôi run rẩy rón rén dần ra trước.
Từ đây tôi nhìn xuống sân khấu rõ từng chi tiết, vì đèn sân khấu vẫn để sáng chưng. Không thấy một ai, kể cả thằng Steve. Tôi ngồi xuống đợi.
Chừng năm phút sau, tôi thấy một bóng người ngập ngừng tiến về phía sân khấu. Bóng người đó bước hẳn lên vùng sáng, quay mình nhìn quanh.
Đó là Steve.
Nó dợm bước về cánh gà bên trái, nhưng ngừng lại, quay sang phải. Nó gặm móng tay, vẻ phân vân chưa biết đi hướng nào. Rồi một tiếng nói từ trên đầu nó vọng xuống:
- Mi tìm kiếm ta, phải không?
Mọt người, hai tay giang rộng, chiếc áo choàng đỏ phần phật như đôi cánh, hạ xuống sàn sân khấu.
Thằng Steve giật bắn người, ngã ngửa ra sau. Tôi đứng phắt dậy. Tôi đã nhận ra: chiếc áo choàng đỏ, chỏm tóc màu cam, làn da trắng nhợt.
Ông Crepsley!
Steve run tới không thốt được nên lời. Ông Crepsley nói:
- Ta đã thấy mi nhìn ta lom lom. Vừa thấy ta lần đầu, mi kêu lên kinh ngạc. Vì sao?
- Vì… vì… tôi biết… ông là ai?
- Ta là Larten Crepsley.
- Không. Tôi biết ông thật sự là ai.
Ông ta cười, nhưng không vui tí nào:
- Hả? Nói đi, thằng nhóc. Thật sự ta là ai?
- Tên thật của ông là… Vur Horston.
Ông Crepsley há hốc mồm kinh ngạc. Mấy tiếng sau của Steve cũng làm mồm tôi há hốc, đầy khiếp đảm.
- Ông là ma-cà-rồng.
CHƯƠNG MƯỜI LĂM
Ông Crepsley (hay Vur Horston, nếu đúng đó là tên thật của ông ta) mỉm cười:
- Vậy là ta đã bị phát hiện. Đáng lẽ ta không nên ngạc nhiên, vì trước sau gì cũng sẽ xảy ra. Nói đi, nhóc, kẻ nào sai mi tới đây?
- Không có ai.
- Thôi nào, nhóc, đừng giỡn mặt ta. Mi làm việc cho ai? Kẻ nào bảo mi theo dõi ta? Chúng muốn
gì?
- Tôi không làm việc cho ai hết. Tôi có cả đống sách báo về quái vật, ma-cà-rồng. Trông một cuốn, có hình ảnh của ông.
- Hình ảnh ta?
- Một bức họa được vẽ vào năm 1903 tại Paris. Ông đứng bên một người đàn bà giàu có. Trong
truyện kể rằng, hai người sắp làm lễ cưới, thì bà ta phát hiện ra ông là ma-cà-rồng và… đã từ bỏ
ông.
- Chỉ là cái cớ. Bạn bè cô ta cho rằng cô ta bịa đặt ra một chuyện huyền hoặc như vậy, để làm tôn giá trị của chính cô ta.
- Chuyện thật khong phải vậy sao?
Ông Crepsley thở dài, nghiêm khắc nhìn Steve quát lớn:
- Không. Nhưng mi mong đó là sự thật, đúng không?
Nếu ở địa vị Steve, tôi co giò biến vội rồi. Nhưng thằng bạn tôi không hề chớp mắt. Nó bảo:
- Ông không làm hại tôi được đâu.
- Tại sao không?
- Vì thằng bạn tôi. Tôi đã kể hết cho nó về ông, nếu có chuyện gì xảy ra cho tôi, nó sẽ đi báo cảnh
sát.
- Cảnh sát sẽ không tin nó.
- Có thể. Nhưng nếu tôi bị chết hay mất tích, họ sẽ điều tra. Ông không thích chuyện ấy, vì sẽ có cả đám cảnh sát đặt cả ngàn câu hỏi, và họ sẽ tới đây vào… ban ngày đấy.
Ông Crepsley lắc đầu ghê tởm:
- Ôi, trẻ con! Ta căm ghét trẻ con. Mi muốn gì? Tiền? Châu báu? Hay bản quyền xuất bản chuyện
đời ta?
- Tôi muốn theo ông.
Tôi suýt lộn tùng phèo khỏi ban công. Thằng Steve-Báo đòi đi theo ma-cà-rồng?! Bạn tin nổi
không?
Ông Crepsley kinh ngạc chẳng kém tôi:
- Hả? Mi nói sao?
- Tôi muốn trở thành ma-cà-rồng. Tôi muốn ông hướng dẫn và tạo tôi thành một ma-cà-rồng.
Ông ta gào lên:
- Mi điên rồi.
- Không. Tôi không điên.
- Ta không thể làm một đứa trẻ con thành ma-cà-rồng được. Ta sẽ bị những tướng quân ma-cà-
rồng giết chết ngay.
- Tướng quân ma-cà-rồng là gì?
- Không phải chuyện của mi. Mi chỉ cần hiểu là chuyện đó không làm được. Chúng ta không sử dụng máu trẻ con. Điều đó gây nhiều phiền phức lắm.
- Vậy thì đừng thay đổi tôi ngay lập tức. Tôi không ngại phải đợi chờ đâu. Tôi có thể là một đệ tử theo học ông thôi. Vì tôi biết, ma-cà-rồng có những phụ tá nửa người, nửa ma-cà-rồng. Hãy thu nhận tôi. Tôi sẽ cố gắng để tự chứng tỏ mình. Khi tôi đủ lớn…
Ông Crepsley trừng trừng nhìn Steve. Vừa nghĩ ngợi, ông vừa búng ngón tay một cái. Từ hàng ghế đầu dưới khán phòng, một cái ghế bay vèo lên sân khấu. Ông ta ngồi xuống ghế, vắt chân chữ ngũ, hỏi thằng bạn tôi:
- Vì sao mi muốn trở thành ma-cà-rồng? Chẳng thú vị gì đâu. Chúng ta chỉ có thể ra ngoài khi đêm
tối. Loài người khinh rẻ chúng ta. Chúng ta phải ngủ trong những nơi dơ bẩn như thế này đây. Chẳng bao giờ có được một mái nhà, vợ con. Đó là một đời sống khủng khiếp lắm.
Steve vẫn khăng khăng:
- Tôi bất chấp hết.
- Có phải vì mi muốn được bất tử không? Nếu vì thế, ta phải cho mi biết… chúng ta không bất tử đâu. Chúng ta sống lâu hơn những con người bình thường nhiều, nhưng trước sau gì, rồi cũng chết như họ thôi.
- Tôi không cần. Tôi muốn đi theo ông, muốn học tập, để trở thành ma-cà-rồng.
- Còn bạn bè? Mi sẽ chẳng bao giờ gặp lại chúng nữa. Mi sẽ phải rời xa mái trường, gia đình, không có ngày trở lại. Rồi còn cha mẹ. Mi không nhớ cha mẹ sao?
Steve nhìn xuống sàn, lắc đầu khổ sở:
- Cha tôi không sống với chúng tôi, hiếm khi nào tôi được gặp ông ấy. Mẹ tôi không yêu tôi. Bà ấy chẳng bận tâm việc tôi làm đâu. Tôi có bỏ đi bà ấy cũng chẳng cần.
- Có phải vì bà ấy không thương yêu mi, mà mi muốn bỏ đi không?
- Cũng có một phần.
- Sao không đợi mấy năm nữa, khôn lớn rồi mi vẫn có thể ra đi được mà.
- Tôi không muốn chờ thêm nữa.
Lúc đó trông ông Crepsley thật hiền lành, dù vẫn có chút đáng sợ. Ông nhẹ nhàng hỏi Steve:
- Còn bạn mi, mi không nhớ thằng nhỏ đi cùng đêm nay sao?
- Thằng Darren? Có, tôi nhớ các bạn tôi, nhất là Darren. Nhưng đó không là vấn đề. Tôi muốn
thành ma-cà-rồng hơn là chuyện tôi nhớ chúng nó. Nếu ông không thu nhận tôi, tôi sẽ báo cảnh sát và khi lớn lên, tôi sẽ làm một kẻ chuyên săn bắt ma-cà-rồng.
Ông ta không cười, mà gật đầu, nghiêm túc hỏi:
- Mi nghĩ kỹ rồi chứ?
- Phải.
- Mi tin chắc đó là điều mi mong muốn?
- Phải.
Ông Crepsley thở dài:
- Lại đây, để ta thử kiểm tra mi.
Steve đứng che khuất mất ông ta, nên tôi không nhìn thấy những gì xảy ra sau đó. Tôi chỉ biết là hai người nói với nhau rất nhỏ rồi có những tiếng như tiếng lưỡi của một con mèo táp sữa.
Tôi thấy lưng của Steve run rẩy, tưởng như nó đang gượng đứng để khỏi bị bật ngửa xuống sàn. Tôi không thể nào cho bạn biết tôi khiếp đảm đến thế nào khi nhìn cảnh đó. Tôi muốn nhảy dựng lên mà gào: “Thôi. Ngừng lại ngay, Steve.”
Tôi sợ đến không nhúc nhích được. Tôi sợ, nếu ông Crepsley phát hiện ra tôi cũng có mặt trong rạp hát này, ông ta sẽ không ngần gì giết cả hai chúng tôi.
Thình lình con ma-cà-rồng bật ho. Hắn ta xô Steve ngã, đứng bật dậy, phun phì phì máu đỏ lòm ra khỏi miệng. Tôi khiếp đảm đến tê cứng cả người.
Steve ngồi dậy, hỏi:
- Chuyện gì vậy?
- Mi mang dòng máu xấu.
Giọng thằng Steve run rẩy:
- Ông nói sao?
- Mi là ma quỷ. Ta nếm thấy mùi đe dọa trong máu của mi. Mi là một kẻ hoang dã.
- Nói láo.
Nó xông lại đấm ông ta. Nhưng chỉ với một tay, ông ta đánh nó gục xuống sàn. Con ma-cà-rồng gầm lên:
- Với dòng máu đó, không bao giờ mi trở thành một ma-cà-rồng được.
Steve bật khóc
- Tại sao không?
- Vì ma-cà-rồng không phải là những quái vật, ma quỷ có kiến thức. Chúng ta tôn trọng sự sống.
Mi có bản năng của một kẻ sát nhân. Còn chúng ta, chúng ta không phải những kẻ giết người. Ta
sẽ không tạo mi thành mọt ma-cà-rồng đâu. Quên chuyện đó đi. Hãy về nhà, tiếp tục sống cuộc đời
của mi.
Steve đạp mạnh chân, chỉ tay vào ông Crepsley gào lên:
- Không. Tôi sẽ không quên. Tôi căm thù ông. Tôi thề, dù chưa biết bao giờ, nhưng sẽ có một ngày Vur Horston sẽ bị ta giết chết, vì tội đã từ chối ta.
Nhảy xuống khỏi sân khấu, vừa chạy ra cửa, nó vừa ngoái lại nói:
- Hãy đợi đấy, sẽ có một ngày…
Tôi nghe tiếng cười sằng sặc của nó vọng lại như một người điên. Vậy là chỉ còn mình tôi với con ma-cà-rồng trong rạp hát.
Ông Crepsley ngồi ôm đầu, phun phì phì máu còn dính trong miệng. Ông ta chùi máu bằng ngón tay, rồi bằng một khăn lau lớn.
Ông càu nhàu: “Ranh con”. Rồi đứng lặng lau chùi hàm răng, đảo mắt nhìn khắp hàng ghế trong khán phòng (tôi ngồi thụp xuống vì sợ ông ta phát hiện), rồi ông ta bước vào sau cánh gà.
Tôi ngồi lặng người chẳng biết bao lâu. Tôi ước sao ra khỏi rạp hát này càng sớm càng tốt. Nhưng
tôi cứ ngồi lì ra đó. Cho đến khi biết chắc không còn một dị nhân hay người phụ tá nào quanh quẩn
đó, tôi mới nhè nhẹ chuồn xuống cầu thang, qua hành lang, và sau cùng bước vào bóng đêm.
Tôi đứng mấy giây ngoài cửa rạp, ngửa mặt nhìn trăng, quan sát thật kỹ không có bóng dáng ma-cà-
rồng trên những ngọn cây. Rồi, tôi chạy băng băng về nhà. Nhà tôi, tôi không về nhà Steve. Tôi
không muốn gặp nó. Thật tình, lúc đó, tôi sợ nó cũng như sợ ông Crepsley. Nó đã muốn trở thành
một ma-cà-rồng. Phải là kẻ điên loạn đến thế nào mới mong ước một điều như thế chứ?
CHƯƠNG MƯỜI SÁU
Chủ nhật đó tôi không gọi cho Steve. Tôi nói với ba má là hai chúng tôi cãi nhau, nên tôi đã không ở lại nhà nó đêm qua. Ông bà tỏ ra không vui, nhất là chuyện tôi về một mình trong đêm hôm khuya khoắt như thế. Ba bảo sẽ “cấm vận” tiền dằn túi của tôi và không cho tôi đi chơi trong một tháng. Tôi không phản đối, vì thấy bị phạt như vậy là còn nhẹ. Thử tưởng tượng ba má sẽ làm gì, nếu biết tôi đã đi xem Xiếc Quái Dị!
Annie thích những món quà tôi mua cho nó lắm. Một thoáng nó đã thanh toán gọn hết mấy cái kẹo và chơi với con nhện cao-su hàng giờ. Nó năn nỉ tôi kể chi li về buổi diễn: trông những quái nhân ra sao? Họ làm những trò gì. Mắt nó tròn xoe khi nghe kể về Người-sói cắn đứt bàn tay người đàn bà. Nhưng nghe xong, nó bĩu môi:
- Dóc. Em hổng tin.
- Thiệt. Anh thề.
- Thề sao?
- Đứa nào nói dóc chết liền.
- Wow! Ước gì em được xem há. Lần sau đi, anh cho em theo không?
- Cho chứ. Nhưng anh sợ còn lâu lắm họ mới trở lại đây.
Tôi không cho Annie biết về ông Crepsley và chuyện Steve muốn thành ma-cà-rồng, nhưng suốt
ngày tôi chỉ nghĩ đến hai người nay. Tôi muốn gọi cho Steve, nhưng không biết nói gì, vì chắc chắn nó sẽ hỏi tại sao tôi không về nhà nó đêm qua, mà tôi thì lại không muốn cho nó biết tôi đã ở lại trong rạp và theo dõi nó.
Một ma-cà-rồng sống thật sự! Tôi vẫn tin chuyện này có thật mà. Nhưng ba má và các thầy cô đều quả quyết là không. Người lớn quá thận trọng hay quá khôn ngoan?
Tôi thắc mắc, thật sự ma-cà-rồng như thế nào? Họ có khả năng làm được mọi thứ như trong sách,
trong phim không? Tôi đã thấy ông Crepsley làm cho cái ghế bay lên, tôi cũng đã thấy ông ta là là từ
trên không xuống sân khấu và tôi còn thấy ông ta… uống máu của Steve. Ông ta còn có thể làm
được những gì nữa? Ông ta có thể biến thành con dơi, con chuột hay một làn khói không? Người ta
có thể nhìn thấy ông ta trong gương không? Ánh sáng mặt trời có thể giết được ông ta không nhỉ?
Nghĩ đến ông Crepsley bao nhiêu, tôi lại càng không thể quên được quý bà Octa. Một lần nữa tôi lại ước sao mình mua được một con nhện như thế. Một con nhện thông minh, để tôi có thể điều khiển được. Tôi sẽ gia nhập chương trình biểu diễn quái dị và chu du khắp thế giới.
Chủ nhật đến rồi đi. Tôi phụ ba làm vườn, giúp má trong bếp, xem TV. Buổi chiều tôi lang thang đi dạo, mơ màng tới những con nhện và ma-cà-rồng.
Thứ hai, tôi lo ngại khi bước qua cổng trường, không biết sẽ phải nói gì với Steve và nó sẽ nói gì
với tôi đây. Hơn nữa, tôi mệt mỏi và choáng váng như người say rượu, vì mấy ngày nghỉ cuối tuần
tôi có ngủ được bao nhiêu đâu - làm sao ngủ được, khi bạn nhìn tận mắt một ma-cà-rồng thật sự,
phải không?
Steve đang đứng trong sân - đó là một điều khác thường - vì tôi luôn tới trường trước nó. Nó đứng tách khỏi các đứa khác, chờ tôi.
Hít một hơi thật sâu, tôi bước lại, đứng dựa tường, kế bên nó. Tôi nói:
- Chào.
- Chào. Ở rạp ra, mày đi đâu?
Mắt nó thâm quầng, tôi cá là hai đêm qua nó còn ngủ ít hơn tôi. Tôi bảo:
- Tao về nhà.
- Tại sao?
- Trời tối thui, tao đi loanh quanh bị lạc đường. Khi thấy nhà cửa quen quen, tao thấy đã đến gần nhà tao hơn nhà mày rồi.
Tôi thấy rõ là nó đang suy tính, tin nổi tôi hay không. Nó bảo:
- Chắc mày bị ông bà già la dữ lắm?
- Sơ sơ thôi. Một tháng cấm vận: không tiền dằn túi, không được đi chơi. Ba tao bảo còn phải làm một đống việc vặt nữa. Nhưng cũng đáng, xiếc quái dị… siêu thật.
- Tôi cười cười. Hình như sau một lúc quan sát, nó mới tin là tôi nói thật.
- Ừa, siêu thật.
Khi Alan và Tommy tới, hai chúng tôi kể mọi chuyện về buổi diễn. Nhưng thật tình tôi và Steve là hai diễn viên đại tài: nó không hề nhắc tới ma-cà-rồng, và tôi cứ làm như không nhìn thấy nó đã gặp gỡ ông Crepsley.
Nhưng trong ngày hôm đó, tôi cảm thấy giữa tôi và Steve không hoàn toàn được như trước nữa.
Mặc dù nó tỏ ra tin tôi, nhưng trong nó vẫn còn thoáng nghi ngờ. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp ánh nhìn của Steve, cứ như tôi là kẻ có thể làm hại nó.
Phần tôi, tôi tránh gần gũi nó. Những gì nó nói với ông Crepsley và những lời ông ta nói với nó cứ
vang vang trong đầu tôi. Ông ta bảo Steve là ma quỷ. Tất cả những điều đó làm tôi lo sợ. Nó đã
muốn thành ma-cà-rồng, giết người để hút máu. Làm sao tôi còn có thể là bạn của một con người
như thế?
Buổi chiều chúng tôi bàn cãi về quý bà Octa. Tôi và Steve đều lảng tránh chuyện về ông Crepsley
và con nhện của ông ta. Nhưng Tommy và Alan lại rất khoái đề tài này. Thằng Tommy nhăn nhó
thắc mắc:
- Chúng mày nghĩ, ông ta điều khiển con nhện đó bằng cách nào?
- Có lẽ là một con nhện giả.
Nghe Alan nói, tôi cãi ngay:
- Giả sao được. Không một quái nhân quái vật nào ở đó là giả. Tất cả đều thật trăm phần trăm.
- Vậy thì ông ta điều khiển nó cách nào?
Thằng Tommy vẫn thắc mắc. Tôi bảo:
- Có thể đó là cây sáo thần, hay ông ta biết bùa chú như kiểu… người Ấn Độ bùa chú những con rắn của họ vậy.
Thằng Alan chưa chịu:
- Nhưng cậu bảo ông Cao cũng điều khiển được con nhện ngon lành, khi bà Octa ở trong miệng ông Crepsley mà.
- Có thể họ đều dùng sáo thần.
- Chẳng có sáo thần nào hết.
Steve bật nói. Gần như cả ngày hôm nay nó rất kín tiếng, nhưng Steve là đứa luôn khoái hạ người khác bằng chứng cứ hẳn hoi. Tôi hỏi:
- Vậy cậu bảo họ làm cách nào?
- Điện thần… thần giao cách cảm.
Alan ngẩn tò te:
- Có… dính dáng gì với điện thoại không?
Steve mủm mỉm cười, còn tôi và thằng Tommy cười hô hố (mặc dù tôi, và chắc chắn cả Tommy, đều mù tịt, chẳng hiểu thần giao cách cảm là gì). Tommy chặc lưỡi, thụi đùa Alan một quả:
- Ngố ơi là ngố!
- Nói đi Steve, cho tụi nó biết là gì nào.
Tôi giục giã. Steve chậm rãi nói:
- Là cách người ta có thể đọc được ý nghĩ của kẻ khác, hay phóng tư tưởng của mình cho họ mà không cần phải nói. Họ điều khiển con nhện bằng tư tưởng.
- Thế còn cây sáo?
- Để biểu diễn, hay rất có thể để làm con nhện chú ý vào một mục tiêu.
Tommy hỏi:
- Cậu cho rằng, ai cũng có thể điều khiển được con nhện đó?
- Phải, bất cứ ai có một bộ não. Nhưng trừ cậu, Alan.
Steve cười nói, để Alan biết là nó chỉ đùa. Tommy lại hỏi:
- Không cần sáo thần, hay huấn luyện, hay… bất kỳ thứ gì sao?
- Ừa, tớ nghĩ thế.
Steve trả lời xong, câu chuyện đổi đề tài - tôi nhớ là hình như chúng nó nói về bóng đá, nhưng tôi không chú ý nghe. Vì thình lình một ý nghĩ nóng hổi trong tôi. Tôi không còn nghĩ gì tới ma-cà-rồng, Steve hay bất cứ chuyện gì khác nữa.
“Cậu cho rằng ai cũng có thể điều khiển được con nhện đó?” “Bất cứ ai có một bộ não”
“Không cần sáo thần, huấn luyện hay bất cứ thứ gì khác?”
“Tớ nghĩ thế”
Những lời nói của Steve và Tommy lập đi lập lại trong tôi như một đĩa hát bị kẹt.
“Bất cứ ai” cũng có thể điều khiển được con nhện đó. Ai đó có thể là tôi, nếu tôi được đặt tay lên nó và liên lạc được với quý bà Octa. Con nhện kỳ lạ đó sẽ là một vật cưng của tôi, tôi sẽ điều
khiển nó và…
Không. Chỉ là chuyện viển vông. Có thể tôi điều khiển được nó, nhưng chẳng bao giờ nó thuộc về tôi. Không bao giờ ông Crepsley chịu rời xa nó, mua bằng tiền hay vàng ngọc…
Một ý tưởng bật lên trong tôi. Phải tìm cách lấy được nó, nó phải thuộc về tôi. Viết thư hăm dọa sẽ tố cáo ông ta là ma-cà-rồng với cảnh sát. Ông ta sẽ phải giao con nhện cho tôi.
Nhưng chỉ nghĩ đến chuyện đối diện với ông Crepsley đã đủ làm tôi khiếp đảm rồi. Tôi biết sẽ không làm được. Chỉ còn một phương án cuối cùng: ăn trộm bà Octa.
CHƯƠNG MƯỜI BẢY
Sáng sớm là thời gian tốt nhất để thực hiện vụ trộm con nhện. Trình diễn quá khuya, các diễn viên mệt mỏi sẽ phải ngủ tới tám, chín giờ sáng. Tôi sẽ lẻn vào, lấy được cái lồng nhốt quý bà Octa
xong là chuồn ra ngay. Nếu chẳng may người trong gánh xiếc thức dậy rồi, tôi sẽ trở về nhà và
quên chuyện này đi.
Phần khó nhất là chọn ngày. Thứ tư là lý tưởng nhất: xuất diễn cuối cùng của đoàn là đêm trước đó. Vì vậy rất có thể họ sẽ dọn đi vào buổi trưa là hợp lý nhất - đến điểm diễn mới trong khi macà-rồgn chưa thức dậy - và… chưa kịp phát hiện ra bị mất trộm. Nhưng nếu họ dọn đi vào ban đêm, ngay sau buổi diễn, tôi sẽ bị mất cơ hội lớn!
Như vậy, chắc phải hành động ngay đêm mai: thứ ba. Nhưng như thế, cũng có nghĩa là ông
Crepsley sẽ còn nguyên thời gian còn lại của đêm thứ ba, tìm kiếm con nhện của ông ta (và tôi). Quá liều lĩnh nhưng không còn chọn lựa nào khác nữa.
Tôi đi ngủ sớm hơn thường lệ. Thấy tôi hôn má và bắt tay ba để vào giường sớm, ông bà tưởng tôi đang “lập công chuộc tội”. Ông bà đâu ngờ, nếu có chuyện không may xảy ra cho tôi tại rạp hát, tôi sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại ba má nữa.
Tôi có một cái radio và cũng là đồng hồ báo thức. Tôi chỉnh cho chuông reo lúc 5 giờ sáng, rồi gài tai nghe vào radio. Như vậy tôi sẽ thức dậy mà không ai biết.
Tôi chìm vào giấc ngủ mau hơn tôi tưởng, và đánh thẳng mọt giấc ngủ ngon lành cho tới khi có tiếng chuông reo. Càu nhàu trở mình rồi tôi ngồi dậy dụi mắt. Mất mấy giây tôi thẫn thờ chẳng biết mình đang ở đâu và tại sao phải thức dậy sớm thế. Rồi tôi nhớ ra con nhện và kế hoạch của mình. Tôi mỉm cười khoái trá.
Nhưng không cười được lâu, vì tôi nhận ra tiếng chuông đang reo không thông qua tai nghe. Chắc khi ngủ tôi đã lăn lộn làm tuột dây rồi.
Nhảy khỏi giường, tôi tắt vội chuông báo thức. Tim tôi đập rộn ràng, ngồi trong bóng tối lắng nghe động tĩnh. Cho đến khi biết chắc ba má tôi vẫn còn đang ngủ, tôi rón rén vào toa-lét. Nhưng có thể ba má tôi đã nghe tiếng chuông, tôi phải hết sức thận trọng.
Nhẹ nhàng xuống nhà dưới, tôi lẻn ra ngoài. Mặt trời sắp lên, có vẻ như hôm nay trời rất nắng.
Tôi vừa bước nhanh vừa lẩm bẩm hát, cho thêm khí thế. Vì tôi lo ngại đến nỗi mấy lần toan trở
lại. Một lần tôi đã thực sự quay đầu, trở về nhà, nhưng rồi nhớ lại hình ảnh con nhện đong đưa
dưới cằm ông Crepsley và những trò biểu diễn của nó, tôi lại tiếp tục tiến bước về rạp hát. Tôi
không thể cắt nghĩa, vì sao con nhện đó quan trọng đối với tôi đến nỗ tôi phải liều mạng một cách hiểm nghèo như thế này, chỉ để mong chiếm được nó.
Ban ngày, cái rạp hát cũ kỹ, ọp ẹp trông còn dễ sợ hơn. Tôi nhìn rõ cả những vết nứt nẻ ngoài mặt tiền, hang chuột khắp nơi, màng nhện giăng đầy cửa sổ. Tôi rùng mình đi gấp ra phía sau. Những căn nhà bỏ trống, những mảnh sân đầy đồ phế thải, rác rến chất đống. Không thấy một bóng
người. Có lẽ khi trời sáng hẳn mới có người sinh hoạt, nhưng lúc này, nơi đây như một thành phố ma. Không thấy đến cả một con chó hay một con mèo.
Đúng như tôi đã nghĩ, rất nhiều lối vào nhà hát. Hai cửa ra vào và rất nhiều cửa sổ. Ô tô nhỏ và xe tải đậu bên ngoài ngôi nhà, không có hình ảnh hay bảng tên nào, nhưng tôi biết chắc những xe này của gánh xiếc. Tôi giật mình chợt nghĩ, lỡ bọn họ đều ngủ trong xe và nếu một trong những xe đó là “nhà” của ông Crepsley thì kế hoạch của tôi sẽ bị thất bại.
Tôi lẩn ngay vào trong rạp, tôi cảm thấy còn lạnh lẽo hơn cả đêm thứ bảy. Nhón gót, tôi đi xuống một hành lang dài, tiếp tục qua hành lang khác, lại thêm hành lang khác nữa. Tôi như lạc vào một mê cung. Đáng lẽ tôi phải đem theo một cuộn dây, để đánh dấu lối trở ra.
Không có dấu vết của một quái nhân nào, có lẽ tất cả bọn họ đều ở trên xe hay một khách sạn nào
gần đây. Tìm kiếm suốt hai mươi phút, chân tôi mỏi nhừ. Có lẽ tôi nên trở về và quên chuyện rồ
dại này đi.
Ngay lúc định bỏ cuộc, tôi chợt thấy một cầu thang dẫn xuống hầm. Tôi cắn môi, đứng lặng hồi
lâu, tự hỏi mình có nên xuống đó không. Tôi đã coi quá nhiều phim kinh dị, đủ để biết rằng, đây là
nơi rất thích hợp cho sào huyệt của ma-cà-rồng. Nhưng tôi cũng đã từng thấy bọn chúng bị tấn
công, bị giết và chặt ra từng mảnh khi những người hùng bước xuống một căn hầm tương tự như
thế này.
Cuối cùng, tôi quyết định cởi bỏ giày, chỉ đi bít-tất để không gây tiếng động. Tôi lần xuống những
bực thang. Chân tôi đạp lên rất nhiều xương vụn, nhưng vì quá lo lắng nên tôi không cảm thấy
đau.
Một cái lồng lớn ngay dưới chân cầu thang. Nhìn qua song lồng, tôi thấy Người-sói đang nằm ngáy khò khò. Tôi lùi vội ra xa, khi Người-sói cựa mình rên rẩm. Nếu hắn thức giấc, hú lên, tất cả quái nhân sẽ chộp lấy tôi ngay.
Khi giật lùi, chân tôi chạm vào một vật vừa mềm vừa nhớt. Từ từ quay lại, tôi thấy cậu bé rắn
nằm xoải trên sàn, hai mắt mở thao láo, con rắn cuốn quanh người. Không hiểu vì sao tôi không la lên hay ngất đi. Nhờ tôi đứng im thin thít như thế mà tôi thoát hiểm. Vì tuy mắt mở trừng trừng nhưng cậu ta ngủ rất say, nhịp thở sâu và đều.
Tôi nhìn quanh căn hầm tối một lần cuối, tự hứa nếu không thấy ông Crepsley, tôi sẽ trở về ngay.
Suốt mấy giây tôi không thấy gì đáng chú ý, vừa định quay ra, tôi chợt thấy một vật giống như cái
thùng lớn.
Nhưng không. Tôi quá rõ đó là cái gì. Đó là một chiếc quan tài.
Tôi rón rén lại gần. Chiếc quan tài dài chừng hai mét, rộng khoảng tám mươi phân. Mặt gỗ đen nhớp nháp. Rêu đóng từng mảng và một con dán đậu trên nắp hòm.
Thật tình tôi rất muốn kể là tôi đã can đảm mở nắp quan tài và dòm vào trong. Nhưng tôi đâu dám làm vậy. Chỉ nghĩ đến chuyện sờ vào nó, tôi đã dựng tóc gáy lên rồi.
Tôi đảo mắt tìm cái lồng nhốt quý bà Octa, vì tin chắc nó chỉ quanh quẩn đâu đây, gần chủ nhân
của nó đang nằm trong quan tài. Đúng vậy, cái lồng để ngay trên sàn, bên cạnh đầu quan tài, phủ
một tấm vải đỏ. Tôi liếc nhìn vào: con nhện đang nằm, bụng phập phồng, tám chân ngọ nguậy.
Nhìn gần, trông nó còn khủng khiếp hơn. Ý nghĩ chạm vào những cái chân đầy lông lá và để nó bó sát mặt làm tôi khiếp đảm.
Nhưng đến nước này, chỉ một tên thật sự hèn nhát mới rút lui. Tôi xách cái lồng, đặt giữa hầm. Chìa khóa vẫn nằm trong ổ khóa. Một ống sáo buộc một bên nan lồng.
Tôi lấy lá thư đã viết từ đêm qua. Lá thư đơn giản nhưng tôi phải vất vả mấy tiếng đồng hồ mới xong. Tôi dán thư lên nắp quan tài.
Thưa ông Crepsley,
Tôi biết ông là ai và là cái gì. Tôi lấy và sẽ nuôi Octa. Đừng tìm kiếm. Đừng trở lại thị trấn này. Nếu không, tôi sẽ cho mọi người biết ông là ma-cà-rồng, ông sẽ bị săn đuổi và bị giết. Tôi không phải là Steve. Steve không biết chuyện này. Tôi sẽ săn sóc con nhện của ông đàng hoàng.
Tất nhiên là tôi không ký tên.
Nhắc đến tên Steve có lẽ không là một ý hay. Nhưng chắc chắn ông ta nghi ngờ nó, vì vậy tốt hơn là cho ông ta biết một cách rõ ràng, nó không liên quan đến vụ này.
Xong việc, tôi xách lồng chạy vội lên thang (rất nhẹ nhàng). Tôi xỏ giày rồi tìm lối ra, dễ dàng hơn tôi tưởng. Vì ngoài hành lang sáng hơn dưới hầm nhiều. Ra tới bên ngoài, tôi đi vòng ra mặt tiền
rạp hát, rồi chạy một mạch về nhà, bỏ lại phía sau: rạp hát, ma-cà-rồng và nỗi sợ của tôi. Bỏ lại tất cả, trừ quý bà Octa.
CHƯƠNG MƯỜI TÁM
Tôi về nhà trước khi ba má thức dậy khoảng hai mươi phút. Giấu lồng nhện vào một góc tủ áo, tôi phủ lên trên một đống áo quần, nhưng thận trọng chừa khoảng trống cho quý bà Octa thở. Con nhện sẽ được an toàn tại đây, vì việc dọn phòng má để tôi tự lo, bà ít khi lục soát phòng riêng của tôi lắm.
Tôi chui vào giường giả bộ ngủ. Ba gọi tôi lúc tám giờ thiếu mười lăm. Tôi thay quần áo, vừa xuống thang vừa vươn vai ngáp, như vừa thức dậy.
Ăn sáng vội vàng, rồi tôi chạy lên lầu thăm bà Octa. Con nhện nằm ngay đơ từ lúc tôi trộm nó về. Tôi lắc nhẹ cái lồng, nhưng nó vẫn không nhúc nhích.
Tôi chỉ muốn ở nhà để thăm dò con nhện. Nhưng không thể. Chuyện giả bệnh để nghỉ học khó lòng qua khỏi cặp mắt của má tôi.
Ngày hôm đó dài lê thê như cả tuần. Mỗi giây chậm chạp trôi như một giờ. Thậm chí giờ
nghỉ ăn trưa hình như cũng kéo dài hơn thường lệ. Tôi chơi bóng đá như đứa mất hồn.
Trong lớp, tôi mất tập trung, ngơ ngơ trả lời những câu hỏi đơn giản nhất cũng không xong! Sau cùng, cũng đến giờ tan trường. Tôi chạy như bay về nhà và lên thẳng phòng riêng.
Quý bà Octa vẫn nằm im một chỗ. Tôi đã sợ là nó chết rồi, nhưng thấy bụng nó vẫn phập phồng thở. Rồi tôi giật mình chợt nhớ: nó đói. Trước đây tôi đã từng thấy những con nhện nằm đờ ra cả ngày chờ được cho ăn.
Không biết nó ăn gì, nhưng tôi đoán, chắc nó không ăn những món ăn như những con nhện bình thường khác. Tôi chạy xuống bếp, vơ vội một cái bình không, rồi vọt ngay ra vườn. Nhặt ruồi chết, bắt mấy con côn trùng và đào mấy con giun lớn, rồi tôi giấu cái lọ trong áo. Nếu má nhìn thấy sẽ đặt ra cả ngàn câu hỏi.
Trở lại phòng, tôi đóng cửa, chặn thêm một cái ghế, rồi xách lồng nhện đặt lên giường và mở tấm vải ra.
Con nhện lim dim mắt, thụp người xuống vì nguồn sáng thình lình. Vừa định mở cửa lồng để bỏ đồ ăn vào, tôi mới nhớ ra: mình đang “giao du” với một con nhện độc. Chỉ vài cú cắn của nó là mình chết đứ đừ.
Lấy từ trong lọ ra một con châu chấu còn sống, thả qua nan lồng. Con châu chấu nằm ngửa, ngo ngoe mấy cái chân, rồi lật sấp lại, tìm đường thoát ra khỏi lồng.
Nhanh như cắt, con nhện chộp con mồi, nanh nhe ra.
Nó nuốt gọn con châu chấu. Nếu là một con nhện bình thường, miếng mồi này sẽ được tiêu
thụ vài ngày mới hết. Nhưng với quý bà Octa, con châu chấu này chẳng thấm thía gì, chỉ là
món khai vị nhẹ nhàng. Con nhện nhìn tôi như bảo: “Được đấy. Còn món chính đâu?”
Tôi cho nó ăn hết côn trùng trong lọ. Con giun lớn vặn vẹo, trườn mình, tranh đấu quyết liệt. Nhưng những cái nanh của bà Octa xé nó ra làm hai, rồi làm bốn khúc. Hình như con nhện khoái khẩu nhất món này.
Tôi lấy ra cuốn nhật ký dưới nệm giường. Đây là tài sản quý nhất của tôi. Tôi ghi chép tất cả mọi chuyện, để có thể viết nên cuốn sách này. Dù tôi nhớ hầu hết những gì xảy ra, nhưng nếu khi nào bị bí, tôi chỉ việc mở nhật ký, kiểm tra lại các sự việc.
Tôi lật trang cuối, ghi lại tất cả những điều tôi biết về bà Octa: những gì ông Crepsley nói về nó, những trò nó biểu diễn, món ăn nó thích. Tôi đánh một dấu bên món nó thích. Hai dấu bên món nó khoái khẩu nhất (Lúc này tôi mới chỉ biết đó là món giun). Bằng cách này, tôi sẽ biết cách cho nó ăn và dùng đồ ăn để bắt nó làm trò theo ý của tôi.
Sau đó, tôi lấy trong tủ lạnh ra một ít phô-ma, thịt dăm-bông, rau xà-lách. Nó tém gọn hết ráo. Điệu này chắc tôi sẽ phải tất bật lo ăn cho quý bà xấu xí này khá vất vả đây.
Đêm thứ ba, với tôi, thật là kinh khủng. Tôi luôn tự nhủ, ông Crepsley nghĩ gì khi thức dậy, phát hiện ra con nhện bị mất và lá thư dán trên nắp quan tài. Ông ta rời thành phố theo lời tôi, hay đang tìm kiếm con vật cưng của mình? Hoặc ông ta và con nhện có khả năng nói với nhau bằng thần giao cách cảm, và ông ta đang lần mò tới nhà tôi?
Tôi ngồi hàng giờ trên giường, ôm khư khư cây thánh giá sát ngực. Trong phim tôi thấy
người ta làm thế này và rất hiệu quả. Nhưng có lần Steve bảo là chẳng ăn thua gì đâu.
Sau cùng, tôi thiếp ngủ vào khoảng hai giờ sáng. Nếu ông Crepsley xuất hiện, tôi hoàn toàn chẳng biết gì. Nhưng khi tôi thức dậy sáng hôm sau, không thấy dấu vết nào chứng tỏ ông ta đã đến phòng tôi và quý bà Octa vẫn ngủ yên trong tủ áo.
Ngày thứ tư tôi đã cảm thấy thoải mái hơn, nhất là khi rảo ngang rạp hát sau buổi học, tôi thấy xe cộ của gánh xiếc không còn đó nữa. Họ đã dọn đi rồi!
Để ăn mừng, tôi mua một cái bánh pizza, thịt dăm bông và bắp rang. Ba má hỏi nhân dịp
đặc biệt gì đây. Tôi bảo chỉ muốn thay đổi món ăn thôi. Không ai hỏi gì thêm nữa.
Con nhện tỏ ra rất khoái khi tôi cho nó một mẩu bánh. Nó chạy quanh lồng, liếm láp từng
mẩu vụn. Tôi ghi ngay vào nhật ký: “Món khoái khẩu đặc biệt: pizza.”
Trong mấy ngày sau, tôi tập cho nó quen với nhà mới. Tôi xách lồng đi quanh phòng, để nó
nhìn từng ngóc ngách. Tôi không muốn nó bị bối rối khi được cho ra khỏi lồng.
Tôi luôn chuyện trò với nó, kể cho nó nghe về tôi, gia đình và căn nhà. Tôi nói với nó là tôi
rất khâm phục và ái mộ nó, tôi cũng bảo cho nó biết những món ăn tôi sẽ đem về cho nó và
những trò chúng tôi sẽ cùng biểu diễn. Dường như nó hiểu, tuy không hiểu tất cả những gì
tôi nói.
Thứ năm và thứ sáu, sau giờ học, tôi vào thư viện trường, tìm đọc tất cả những sách về loài
nhện. Còn quá nhiều điều tôi chưa biết. Chẳng hạn như chúng có thể có đến tám con mắt,
và tơ của chúng là một chất nhựa lỏng, khi ra không khí mới rắn lại dần. Nhưng không cuốn
sách nào đề cập tới một con nhện diễn viên và có khả năng thần giao cách cảm. Tôi không
thể tìm thấy một hình ảnh nào giống con nhện của tôi. Hình như chưa tác giả nào được
nhìn thấy một con nhện giống như quý bà Octa. Octa là một sinh vật độc nhất vô nhị!
Thứ bảy tới rồi! Tôi quyết định đã đến thời điểm cho con nhện ra khỏi lồng và làm thử vài
trò. Tôi đã tập và có thể thổi ống sáo được một vài nốt đơn giản. Vấn đề gay go nhất là
truyền tư tưởng cho nó trong khi thổi sáo. Nhưng tôi có cảm tưởng là mình sẽ làm được.
Tôi đóng hết cửa sổ và cửa ra vào. Lúc này là chiều thứ bảy. Ba chưa đi làm về, má và
Annie đi mua sắm. Chỉ một mình tôi ở nhà, nếu có chuyện không hay xảy ra, lỗi tôi, một
mình tôi gánh chịu.
Tôi đặt cái lồng giữa sàn. Từ đêm hôm qua tôi chưa cho nó ăn gì. Tôi đoán, nó không chịu làm trò gì, nếu nó kềnh bụng. Vật cũng như người, no bụng là trở nên lười biếng lắm.
Mở tấm vải phủ lồng, tôi vặn khóa, rồi mở cái cửa bé tí xíu. Sáo đặt trên môi, tôi thu mình sát sàn để con nhện có thể nhìn thấy tôi.
Quý bà Octa bất động một lúc, rồi bò tới cửa lồng. Ngừng lại, đánh hơi. Nó có vẻ quá mập để lách qua khỏi cửa. Tôi nghĩ là mình đã bồi dưỡng nó hơi quá đáng. Nhưng rồi nó cũng thu mình, chui ra được.
Ngồi trên thảm, cái bụng bự của nó luôn phập phồng. Tôi tưởng nó sẽ dạo quanh quan sát căn phòng, nhưng nó không tỏ ra chút dấu hiệu nào quan tâm đến chung quanh.
Đôi mắt con nhện chỉ gắn chặt vào tôi.
Tôi nuốt ực nước bọt, cố gắng không để nó nhận ra là tôi đang sợ. Tôi cũng phải khó khăn mới kềm nổi mình run rẩy và bật ra một tiếng kêu. Ống sáo rời khỏi môi, dù tôi vẫn giữ chặt trong tay. Vừa lom lom nhìn con nhện tôi vừa khẽ khàng đặt lại ống sáo lên miệng thổi. Đúng lúc đó nó hành động. Nó nhảy vọt lên, bay tới trước, hàm há hốc, nanh nhe ra, những cái chân đầy lông quơ quào trong khoảng không và… phóng thẳng vào mặt tôi.
CHƯƠNG MƯỜI CHÍN
Nếu nó phóng trúng đích, những cái nanh đã phập sâu vào mặt tôi và tôi đã chết rồi! Nhưng tôi đã may mắn, con nhện dội mạnh vào đầu ống sáo, văng mình sang một bên. Nó rơi lên quả bóng, choáng váng vài giây.
Tranh thủ từng giây, tôi vội vàng thổi sáo như điên. Miệng tôi khô ran, nhưng tôi thổi không ngừng nghỉ, không dám ngừng lại liếm môi.
Quý bà Octa ngẩng đầu lắng nghe. Nó vung vẩy những cái chân, nghiêng ngả thân mình như say rượu. Tôi lén hít thở, rồi bắt đầu nhè nhẹ thổi để hà tiện hơi.
Tôi nhắm mắt, tập trung nói trong đầu:
- Tên ta là Darren Shan. Ta đã từng nói rồi, nhưng không biết mi có nghe không? Ta là chủ nhân mới của mi. Ta sẽ cư xử rất tốt với mi và cho mi ăn toàn món ăn hảo hạng. Nhưng mi phải ngoan ngoãn làm theo những gì ta bảo và, nhất là, không được tấn công ta.
Con nhện ngừng nghiêng ngả, trừng trừng nhìn tôi. Tôi không biết là nó đã hiểu ý nghĩ tôi hay đang tính kế phóng lên tấn công lần nữa. Tôi bảo:
- Ta muốn mi đứng lên bằng hai chân sau. Đứng lên bằng hai chân sau và cúi thấp đầu
xuống.
Nó không nhúc nhích. Tôi tiếp tục yêu cầu, ra lệnh rồi năn nỉ. Đến lúc tôi sắp hụt hơi, nó vươn mình, đứng dựng bằng hai chân sau. Rồi hơi cúi đầu đợi lệnh.
Nó đã làm theo ý tôi!
Lệnh tiếp theo, tôi bảo nó bó trở vào lồng. Nó làm theo. Lần này tôi chỉ phải nghĩ trong đầu một lần thôi.
Tôi đóng cửa, nằm vật ra sàn. Cú sốc khi nó phóng lên mặt, vẫn còn làm tim tôi rối loạn. Tôi cứ nằm như thế nhìn con nhện mà nghĩ cái chết đã cận kề tôi đến thế nào. Nếu nó không phóng mình trúng cây sáo, khi má trở về đã nhìn thấy xác tôi rồi. Và khi đó có thể nó sẽ tấn công cả ba, má và em Annie.
Đóng kín cửa, giam mình trong phòng với một sinh vật nguy hiểm như thế, thật là đại ngu
ngốc.
Nhưng tôi không thể ngừng lại được nữa. Trái lại, tôi còn muốn đi xa hơn. Chẳng lẽ vượt
bao gian nguy mới có được nó, bây giờ chỉ để nhốt nó trong cái lồng kia.
Lần này tôi khôn hơn một chút. Tôi mở khó, nhưng không mở cửa. Vừa thổi sáo, tôi vừa ra
lệnh cho nó tự mở. Nó làm theo đúng ý tôi, và khi ra ngoài, nó hiền lành vô hại như một chú
miu con.
Tôi bảo nó làm đủ trò. Nhảy quanh phòng như một con kăng-gu-ru; thả mình từ trần xuống; dệt những bức họa bằng tơ; nâng tạ (bằng cây bút, hộp diêm, hòn bi). Rồi tôi bảo nó ngồi lên một ô-tô đồ chơi, điều khiển từ xa. Khi tôi cho xe chạy, trông cứ như quý bà Octa đang phom phom lái xe rất điệu nghệ.
Tôi chơi đùa với nó cả giờ và còn muốn tiếp tục suốt buổi chiều. Nhưng nghe tiếng má đã về, tôi vội đưa bà Octa trở lại tủ và chạy xuống thang tỉnh bơ như không có chuyện gì. Má và Annie đang mở bốn gói đầy mũ nón và quần áo. Má hỏi:
- Con đang nghe nhạc hả?
- Dạ, không.
- Hình như má nghe tiếng nhạc mà.
- Con thổi sáo.
- Hả? Thổi sáo?
- Con biết thổi mà. Má nhớ không, má dạy con thổi từ hồi con năm tuổi? Má tôi cười lớn:
- Nhớ chứ. Má cũng nhớ là năm lên sáu, con bảo chỉ tụi con gái mới thổi sáo. Con còn thề là không bao giờ thèm ngó tới một cây sáo nữa.
Tôi nhún vai, ra điều “đó là chuyện nhỏ”:
- Con đổi ý rồi. Hôm qua, đi học về con nhặt được cây sáo, nên thử xem còn nhớ cách thổi
không.
- Con nhặt được ở đâu?
- Trên đường.
- Có rửa kỹ trước khi đưa lên miệng không đó?
- Rửa chứ ạ.
Tôi nói dối. Má tôi mỉm cười vò đầu và hôn lên má tôi, ướt nhẹt. Tôi kêu lên:
- Đừng mà. Má kỳ quá.
- Ba má sẽ khơi dậy trong con một thiên tài âm nhạc. Ngay từ bây giờ má đã tưởng như
thấy con, trong bộ lễ phục thật đẹp, chơi dương cầm trong một phòng hòa nhạc vĩ đại. Ba má ngồi trên hàng ghế đầu…
- Tỉnh lại đi, má ơi! Chỉ là một cây sáo vớ vẩn thôi mà.
- Từ những mầm nhỏ, những cây sồi lớn lên. Con Annie được dịp chọc quê tôi:
- Trông anh ấy lù lù như cây sồi thật đấy. Tôi thè lưỡi trợn mắt với nó.
Mấy ngày sau đó thật tuyệt vời. Khi nào có thể, tôi lại chơi đùa với quý bà Octa. Mỗi buổi chiều tôi cho nhện ăn (nó đã lớn, chỉ cần mỗi ngày một bữa thôi). Tôi không phải khóa cửa phòng nữa, vì ba má hứa sẽ không bước vào khi tôi tập sáo.
Tôi muốn chia sẻ bí mật với Annie, nhưng quyết định để thêm một thời gian nữa. Chỉ khi
nào tôi cảm thấy thật an toàn, tôi sẽ cho nó biết. Tuần lễ đó từ việc học tới chuyện đá bóng tôi đều tiến bộ. Trong vòng từ thứ hai tới thứ sáu tôi cho thủ môn đối phương vào lưới nhặt bánh hai mươi lăm lần. Kể cả thầy Dalton cũng phải… xúc động! Thầy nói:
- Với những điểm tốt trong lớp và sự dũng mãnh ngoài sân cỏ, em sẽ trở thành một cầu thủ nhà nghề kiêm giáo sư đại học đầu tiên. Một sự phối hợp tuyệt vời giữa danh thủ Pele và nhà bác học Einstein.
Ghê chưa! Tôi biết là thầy lên dây cót tinh thần cho tôi thôi, nhưng nghe cũng… sướng.
Phải mất một thời gian lấy đủ can đảm để có thể cho Octa bò từ mình lên tới đầu tôi. Và tôi quyết định thử màn này vào một buổi chiều thứ sáu. Tôi thổi một bài sáo hay nhất, và lập đi lập lại nhiều lần những điều tôi muốn nó làm. Khi nghĩ là hai chúng tôi đã sẵn sàng, tôi gật đầu ra dấu. Con nhện bắt đầu leo lên ống quần tôi.
Mọi chuyện đều tốt đẹp cho đến khi nó chạm vào da cổ tôi. Cảm giác gây ra bởi những cái chân khẳng khiu, lông lá làm tôi suýt làm rơi cây sáo. Nó đang ở một nơi rất hoàn hảo để thọc sâu những cái nanh vào mạch máu cổ tôi.
Nó bò từ tai trái lên đỉnh đầu tôi, rồi chễm chệ ngồi trên đó. Da đầu tôi ngứa như điên,
nhưng tôi không dám gãi. Nhìn vào gương, tôi thấy con nhện như một cái mũ nồi.
Tôi điều khiển cho nó trườn xuống mặt và đánh đu trước mũi tôi với một sợi tơ. Tôi không để nó chui vào miệng, nhưng đong đưa qua lại, như nó đã từng biểu diễn với ông Crepsley, và gãi cằm tôi bằng những cái chân.
Tôi không dám để nó ngó ngoáy lâu mấy cái chân dưới cằm, vì sợ sẽ phì cười làm rơi ống
sáo.
Đêm thứ sáu đó, khi đặt nó lại vào lồng, tôi cảm thấy mình như một ông vua, như suốt đời tôi mọi chuyện sẽ hoàn toàn tốt đẹp. Tôi đang tiến bộ từ việc học tới thể thao. Tôi có một con vật cưng mà bất cứ đứa trẻ nào cũng phải ao ước. Dù trúng số độc đắc hay làm chủ một xưởng bánh kẹo, tôi cũng không thể sung sướng hơn thế này.
Tôi sung sướng cho đến khi, mọi chuyện trở nên tồi tệ, cả thế giới sụp đổ quanh tôi. CHƯƠNG HAI MƯƠI
S teve ghé thăm tôi vào xế chiều thứ bảy. Suốt tuần qua chúng tôi ít khi chuyện trò cùng
nhau. Tôi rất ngại khi phải gặp nó. Má mở cửa cho nó rồi kêu tôi xuống. Tới nửa cầu thang, tôi ngừng lại, gọi nó lên lầu.
Nó ngắm quanh phòng tôi, cứ như cả mấy tháng nay nó không hề đến đây, bảo:
- Tao gần như chẳng nhớ phòng mày ra sao nữa.
- Quên đi. Giả nai hoài. Mấy tuần trước thằng nào ở đây?
Ngồi xuống giường, nhìn tôi rầu rầu, nó nhẹ nhàng hỏi:
- Vậy mà cứ như lâu lắm rồi. Tại sao cậu cứ tránh mặt tớ?
- Cậu nói gì vậy?
- Hai tuần qua cậu luôn lẩn tránh mình. Lúc đầu mình không nhận ra, nhưng mỗi ngày cậu càng xa cách mình. Thậm chí, thứ năm vừa qua, khi chơi bóng rổ, cậu cũng không thèm chọn mình ra sân.
- Cậu đánh bóng rổ ẹ thấy mồ…
Một lời bào chữa rất “ngố”, nhưng tôi chẳng tìm được câu nào khá hơn. Nó lại nói:
- Lúc đầu mình thắc mắc, chẳng hiểu vì sao. Nhưng rồi mình đoán ra, cậu không bị lạc hôm đi xem xiếc về, đúng không? Có thể cậu quanh quẩn trong rạp, lên ban-công và… đã thấy chuyện xảy ra giữa mình và Vur Horston.
- Tớ chẳng thấy cóc khô gì hết.
- Không sao?
- Không.
- Không thấy gì hết?
- Không.
- Không thấy mình nói chuyện với Vur Horston?
- Không.
- Cậu cũng không…
- Nè, Steve. Bất cứ chuyện gì xảy ra giữa cậu và ông Crepsley là chuyện của cậu. Tớ đã
không ở đó, không thấy, không nghe, không biết cậu đang nói cái khỉ gì. Bây giờ nếu…
- Đừng nói dối mình, Darren.
- Mình không nói dối.
- Vậy tại sao cậu biết mình đang nói về ông Crepsley? Mình đang nhắc tới cái tên Vur Horston mà.
Tôi ú ớ:
- Vì… vì…
- Trừ khi có mặt tại đó, cậu mới biết Vur Horston và Laren Crepsley là một. Tôi ngồi xuống bên nó, xuội lơ:
- Thôi được, mình thú thật, lúc đó mình ở trên ban-công.
- Cậu đã nghe và thấy những gì?
- Tất cả. Chỉ trừ khi ông ta hút máu cậu và thì thầm quá nhỏ. Steve thở dài:
- Đó là lý do cậu lảng tránh mình? Vì ông ta bảo mình là ma quỷ?
- Một phần thôi. Cái chính là vì cậu đã năn nỉ ông ta làm cậu thành ma-cà-rồng. Nếu ông ta biến cậu thành ma-cà-rồng thì chuyện gì sẽ xảy ra? Cậu sẽ tấn công mình, phải không? Vì ma-cà-rồng tấn công những người quen biết trước tiên, đúng không nào?
- Đó là chuyện trong phim, trong sách thôi. Còn đây là đời sống thật. Làm sao mình nỡ hại cậu, Darren?
- Làm sao mình biết được? Vấn đề là mình không muốn làm bạn với cậu nữa. Cậu có thể là
một hiểm họa. Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu cậu gặp một ma-cà-rồng khác, sẵn sàng đáp ứng
ước vọng của cậu? Hoặc là ông Crepsley nói đúng, cậu là ma quỷ và…
Steve vật tôi xuống giường, ngồi lên ngực tôi. Nó xòe mấy ngón tay bấu mật tôi, gào lớn:
- Tao không phải ma quỷ. Rút lại lời nói đó ngay, nếu không tao vặn đứt cổ mày.
- Xin lỗi, xin lỗi. Tao không nói thế nữa.
Tôi cũng hoảng hồn la hét. Thân hình nó đè nặng trên ngực, mặt nó đỏ bừng giận dữ, làm sao tôi không phát khiếp lên được.
Nó cứ ngự trên ngực tôi như thế đến mấy giây, rồi mới chịu lăn xuống giường. Tôi ngồi dậy, thở hổn hển, tay xoa mặt. Steve lẩm bẩm nói:
- Xin lỗi, tao quá tay. Nhưng chỉ vì những lời lão Crepsley nói, mà mày lơ là, lảng tránh tao,
làm tao đau lòng quá. Darren, mày là bạn thân nhất của tao, người duy nhất tao có thể kể
lể, chuyện trò. Nếu mày cắt đứt tình bạn của chúng mình, tao sẽ không biết phải làm sao.
Nó bật khóc. Tôi ngồi nhìn nó, vừa thương vừa sợ. Nhưng rồi tôi cảm thấy thương nó hơn.
Tôi quàng tay ôm vai nó, nói:
- Ổn rồi, Steve. Tao vẫn là bạn mày. Thôi nào, đừng khóc nữa, Steve. Nó sụt sịt một lúc rồi bảo:
- Trông tao giống thằng khùng quá hả?
- Tao mới khùng. Tao là thằng hèn. Đáng lẽ tao phải luôn ở bên mày, đáng lẽ tao phải nghĩ đến những gì mày đang phải chịu đựng. Nhưng tao chỉ nghĩ đến mình, nghĩ đến quý bà… Thấy tôi chợt im bặt, Steve tò mò hỏi:
- Cậu định nói gì?
- Không. Mình lỡ lời thôi.
- Cậu nói dối dở lắm, Shan. Có chuyện gì, nói cho mình biết đi.
Tôi nhìn nó, tự hỏi có nên cho nó biết không. Biết là không nên, vì sẽ đem lại nhiều rắc rối. Nhưng tôi tội nghiệp Steve quá. Hơn nữa, tôi cần có người để kể, để khoe con vật cưng tuyệt vời của mình và những trò biểu diễn của chúng tôi. Tôi hỏi Steve:
- Cậu có giữ được bí mật không?
- Tất nhiên.
- Đây là một chuyện rất quan trọng. Không được cho bất kỳ ai biết. OK? Chỉ hai đứa mình thôi, nếu cậu nói…
- Nếu mình tiết lộ bí mật của cậu, cậu sẽ tiết lộ bí mật của tớ vụ ông Crepsley. Được chưa? Nhưgn chuyện gì mà có vẻ bí mật khiếp thế?
- Khoan đã.
Tôi mở cửa phòng, gọi lớn:
- Má ơi!
- Hả?
- Con dạy Steve thổi sáo. Đừng ai quấy rầy tụi con nghe, má.
- Yên tâm.
Tôi khép cửa, cười với Steve. Nó ngẩn ngơ hỏi:
- Sáo? Bí mật lớn của cậu đó hả?
- Một phần thôi. Cậu có nhớ Quý bà Octa, con nhện của ông Crepsley không?
- Nhớ chứ. Mình không chú ý lắm tới nó, nhưng ai có thể quên được một sinh vật như thế. Những cái chân lông lá của nó khiếp thật.
Trong khi nó nói, tôi đến mở tủ áo, lấy ra cái lồng. Nó lim dim nhìn, rồi hai mắt trợn tròn xoe:
- Không… không phải là cái vật mình đang nói đấy chứ?
Tôi mở tấm vải:
- Tùy. Nếu cậu coi đây là một con nhện diễn viên kinh khủng, thì… cậu đúng.
- Thánh thần ôi! Ở đâu… mà cậu… Ôi! Trời đất!
Khoái trá vì phản ứng của Steve, tôi đứng bên cái lồng mỉm cười như một ông bố đang hãnh diện. Quý bà Octa nằm im lìm, không thèm quan tâm gì tới tôi và thằng Steve. Steve bò lại gần, nhìn cho rõ:
- Ghê quá! Giống hệt con nhện của gánh xiếc. Cậu kiếm được ở đâu vậy? Cửa hàng bán thú cảnh hay sở thú?
Nụ cười của tôi biến mất:
- Mình… lấy trong Gánh Xiếc Quái Dị. Nó nhăn mặt, hỏi:
- Gánh xiếc? Họ bán cả nhện sống à? Sao tớ không thấy? Bao nhiêu?
- Mình… không mua. Steve, cậu không đoán, không hiểu gì sao?
- Hiểu gì?
- Đây không phải là con nhện “giống như” con nhện cậu đã thấy. Mà… mà chính là nó đấy. Quý bà Octa.
Steve, nhìn tôi lom lom như chưa hiểu tôi nói gì, tôi vừa định lập lại, nó bật hỏi, giọng run
rẩy:
- Đây chính là… con nhện đó?
- Đúng.
- Cậu bảo đây là quý bà Octa của gánh xiếc?
- Đúng.
- Là con nhện của ông Crepsley?
- Steve, cậu sao vậy? Đã bao nhiêu lần mình nói…
- Khoan. Nếu thật sự đây là quý bà Octa. Làm cách nào cậu có được? Cậu nhặt được ngoài đường? Hay họ bán cho cậu?
- Không ai dại dột bán một con nhện khổng lồ như thế này.
- Tớ cũng nghĩ thế. Vậy thì, bằng cách nào cậu… Tôi hãnh diện nói:
- Mình ăn trộm. Sáng thứ ba, mình lẻn vào rạp hát, tìm thấy cái chuồng nhện, mình xách và chuồn ngay. Mình để lại cho ông Crepsley một lá thư, cho ông ta biết, nếu cố tình tìm kiếm quý bà Octa, mình sẽ báo cảnh sát ông ta là ma-cà-rồng.
Steve thở gấp, mặt nó nhợt nhạt như sắp bị ngất đi. Nó lắp bắp:
- Mày… mày…
- Cậu làm sao vậy? Nó gào lên:
- Mày khốn nạn! Đần độn! Điên khùng!
- Ê…
- Đồ con bò, con lợn ngu ngốc! Mày không biết là mày đã làm gì sao? Mày không có một chút ý nghĩ nào là mày đang kẹt vào chuyện đầy nguy hiểm à?
- Hả?
- Mày ăn cắp con nhện của một ma-cà-rồng. Mày nghĩ lão ta sẽ làm gì khi bắt được mày? Đét đít mày? Hay mách ba má để phạt mày không cho đi chơi? Mày phải nhớ, chúng mình đang nói về ma-cà-rồng. Lão ta sẽ móc họng mày ra, xé mày thành từng mảnh nhỏ làm
thức ăn cho nhện…
Tôi bình tĩnh ngắt lời nó:
- Không. Ông ta đâu dám đi tìm kiếm tao. Tao chôm con nhện hôm thứ ba tuần trước nữa.
Cả gần hai tuần rồi, có gì đâu nào. Ông ta đi cùng gánh xiếc rồi và không trở lại nữa đâu.
- Làm sao biết được. Ma-cà-rồng thù dai lắm. Lão có thể trở lại khi mày lớn lên và có cả bầy con rồi.
- Tới lúc đó sẽ tính. Nhưng bây giờ thì tao hết lo rồi. Thật tình, tao tưởng không làm nổi chuyện đó. Tao cứ nghĩ thế nào cũng bị hắn tóm được và giết chết. Nhưng tao đã thành công. Đừng chửi tao nữa, được không?
Steve phì cười, lắc đầu:
- Nể cậu thật. Mình cứ tưởng mình gan lì, nhưng ăn cắp con vật cưng của một ma-cà-rồng thì chẳng bao giờ mình dám nghĩ tới. Nhưng vì sao cậu làm vậy?
- Nhìn nó biểu diễn, mình mê quá. Mình biết phải có được nó bằng bất cứ giá nào. Rồi sau
khi phát hiện ông Crepsley là ma-cà-rồng, mình thấy là có thể hăm dọa ông ta. Mình biết
việc làm của mình là không đúng, nhưng ông ta là ma-cà-rồng, hành động của mình cũng
không đáng trách lắm. Chôm đồ của một kẻ ác, cũng là một hành động tốt, phải không?
Steve cười lớn:
- Tớ cóc biết là tốt hay xấu. Tớ chỉ biết một điều, nếu lão trở lại tìm con nhện, tớ không muốn dính chùm với cậu đâu.
Nó cúi sát cái lồng hơn (nhưng không quá gần để bà Octa có thể tấn công), ngắm nghía cái bụng to đùng đang phập phồng lên xuống. Nó hỏi:
- Có khi nào cậu thả nó ra chưa?
- Mỗi ngày.
Tôi cầm ống sáo lên thổi một nốt. Quý bà Octa phòng tới mấy phân. Thằng Steve hoảng hốt, bật ngửa ra sàn làm tôi cười rú lên thích thú. Nó hổn hển hỏi:
- Cậu điều khiển được nó à?
- Mình có thể bắt nó làm đủ thứ như ông Crepsley. Cũng dễ thôi. Nó rất an toàn khi cậu tập trung tư tưởng. Nhưng cậu hơi lơ đễnh, dù chỉ một giây, là…
Tôi dí ngón tay vào cổ họng và “hự” một tiếng. Mắt Steve sáng lên khi hỏi:
- Cậu có để nó giăng tơ trên môi không?
- Chưa. Tớ ớn cho nó bò vào trong miệng quá. Cứ nghĩ nó chui tọt vào họng là tớ phát
khiếp. Hơn nữa, cần phải có một người cộng tác, trong khi nó ở trong miệng tớ. Cho đến lúc này tớ vẫn chỉ làm một mình.
- … đến lúc này, cậu sẽ không một mình nữa.
Steve tươi cười vỗ tay, đứng dậy.
- Nào, dạy tớ cách sử dụng cài còi bé tí xíu này đi. Tớ cóc sợ cho con nhện vào miệng đâu. Nào, bắt đầu, bắt đầu, BẮT ĐẦU.
Nhìn nó hí hửng như vậy, làm sao tôi từ chối được. Nhưng tôi bảo nó:
- Cậu chưa chơi trò này bằng sáo được, phải tập chứ. Nhưng bây giờ cậu có thể chơi với con nhện, trong khi tớ điều khiển nó.
Tôi cắt nghĩa cho nó hiểu tất cả các trò tôi sẽ làm và dặn dò thật kỹ:
- Im lặng là sống. Đừng nói một tiếng nào. Vì nếu cậu làm tớ mất tập trung, tớ sẽ không điều khiển được nó đâu.
- Hiểu, hiểu rồi. Tớ sẽ câm như đá, cậu đừng lo.
Khi Steve đã sẵn sàng, tôi mở cửa lồng và bắt đầu thổi sáo. Con nhện tiến ra theo lệnh tôi. Tôi nghe Steve hít một hơi dài: nó hơi hoảng, vì lúc này con nhện đã ra khỏi lồng. Nhưng nó không ra dấu bảo tôi ngừng trò này lại, Nên tôi tiếp tục để quý bà Octa bắt đầu biểu diễn những tiết mục thường lệ.
Trong hai tuần vừa qua tôi và con nhện càng lúc càng hiểu nhau nhiều hơn. Nó đã quen với những ý nghĩ của tôi, đã có thể thi hành lệnh, trước khi tôi chấm dứt truyền những ý nghĩ trong đầu cho nó. Tôi khám phá ra là nó hiểu rất mau những chỉ thị ngắn gọn nhất: tôi chỉ phải sử dụng vài từ là nó hành động ngay.
Steve hoàn toàn im lặng xem màn trình diễn. Thỉnh thoảng, hứng chí quá, nó suýt vỗ tay.
Nhưng chợt nhớ ra, nó chỉ đưa ngón cái lên, miệng tròn ra cố để tôi hiểu những lời tán tụng: “Tuyệt vời! Quái chiêu!”.
Đến lúc Steve có thể tham gia, tôi gật đầu ra dấu. Nó gật lại, rồi nhẹ đứng dậy, tiến lên mấy bước. Nó trùng gối xuống, chờ đợi.
Tôi chuyển qua những âm thanh mới và đưa ra một loạt lệnh cho con nhện. Quý bà Octa lắng nghe. Khi hiểu tôi muốn gì, nó lù lù tiến lại Steve. Tôi thấy Steve rùng mình, liếm môi. Tôi đã định ngừng lại và bắt con nhện trở vào lồng, nhưng thấy thằng bạn tôi bình tĩnh lại và không rùng mình nữa, tôi tiếp tục.
Nó chỉ thoáng rùng mình, khi con nhện bắt đầu leo lên ống quần. Đó là chuyện bình thường.
Đôi khi tôi cũng có phản ứng như vậy, khi lông chân con nhện chạm vào da.
Steve tỏ ra rất hào hứng, tôi cũng vậy. Vì bây giờ có thêm nó, chúng tôi sẽ có thể bầy thêm
rất nhiều trò.
Con nhện đang ở trên vai Steve, sửa soạn trườn mình xuống cánh tay nó. Ngay lúc đó cửa mở và Annie bước vào.
Annie chưa bao giờ vào mà không gõ cửa trước. Nhưng tối đó, thật quá bất hạnh, nó xông ngay vào phòng, nói lớn:
- Darren, anh có thấy…
Nhìn con quái vật trên vai Steve đang nhe nanh như sắp cắn, Annie kêu thét lên.
Tiếng thét làm tôi giật mình, quay lại, cây sáo rơi khỏi miệng và sự tập trung bị ngắt đoạn. Quý bà Octa, lắc mạnh đầu, tiến gần hơn tới cổ họng Steve, nhe nanh như cười. Steve la lên, khiếp đảm. Nó vội vàng phủi con nhện. Con nhện né được. Tay nó chưa kịp chạm vào con nhện lần thứ hai, quý bà Octa cúi đầu, lệ như một con rắn, cắm ngập những cái nanh độc vào cổ của Steve!
CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT
N gay khi bị con nhện cắn, Steve cứng đờ người. Tiếng kêu của nó tắc nghẹn trong cổ họng, môi nó thâm tím, mắt mở đứng tròng. Trong mấy giây dài như vô tận đó, nó loạng quạng rồi đổ sụp xuống như một con chim trúng tên.
Nhưng cái ngã đó đã cứu nó. Cũng như con dê trong màn trình diễn, cú cắn đầu tiên không giết chết ngay Steve. Khi nó ngã vật xuống, tôi thấy con nhện đang bò loay hoay tìm điểm cắn thứ hai, bị rớt khỏi cổ.
Ngay cái giây con nhện toan tính bò lại lên cổ bạn tôi, tôi hấp tấp đưa ống sáo lên miệng,
suýt thọc sâu vào tận họng. Tôi thổi một tiếng cực mạnh, trong đầu tôi vang vang ra lệnh:
“Ngừng lại ngay” và quý bà Octa nhảy bật lên không, chừng nửa mét. Tôi ra lệnh tiếp: “Trở
vào lồng.” Con nhện nhảy khỏi mình Steve, chạy vào lồng. Tôi nhào lại, kéo sập ngay cửa.
Annie vẫn đang gào khóc, nhưng tôi phải lo cho Steve trước. Tôi gọi tên nó, chưa bao giờ tôi
ước ao được nghe tiếng nói của nó như lúc này:
- Steve! Steve! Cậu nghe mình chứ?
Tôi biết nó còn sống, vì nó vẫn còn thở. Nhưng chỉ có thế thôi. Chân tay nó không hề nhúc nhích, thậm chí đến không một cái chớp mắt.
Annie đến sau lưng tôi, nó đã nín khóc nhưng run rẩy toàn thân. Nó lí nhí hỏi:
- Anh ấy chết rồi hả?
- Không đâu. Em không thấy là anh ấy vẫn thở sao? Nhìn bụng và ngực anh ấy kìa.
- Nhưng sao… anh ấy không cử động được?
- Anh ấy chỉ bị tê liệt tạm thời thôi, vì nọc độc của con nhện làm chân tay anh ấy không
hoạt động được. Nhưng đầu óc anh ấy vẫn tỉnh, vẫn thấy và nghe được tất cả.
Tôi hy vọng những lời nói của mình là đúng. Nếu nọc độc của Octa chỉ ảnh hưởng tới tim và phổi của Steve thôi. Nhưng… nếu nọc độc chạy lên tận não nó thì…
Tôi không dám nghĩ thêm nữa. Tôi thì thầm với nó:
- Steve, mình nghĩ, nếu cố đi lại, nọc độc sẽ giảm nhiều.
Tôi ôm ngang người, kéo nó đứng dậy, cố kéo lê nó quanh phòng, lắc mạnh tay chân và liên
tục nói với nó, là nó sẽ khỏe lại, một cái cắn không đủ để nọc độc giết chết nó đâu.
Sau mười phút, tôi mệt rã rời, tình hình vẫn không chút khả quan. Tôi nhẹ nhàng đặt nó nằm
lên giường. Mắt nó vẫn mở thao láo. Đôi mắt trợn trừng của nó làm tôi sợ. Tôi vuốt cho mắt
nó nhắm lại. Nhưng trông nó như xác chết còn làm tôi ớn hơn. Tôi lại phải vuốt ngược cho
mắt nó mở ra.
Annie run run hỏi:
- Anh ấy sẽ tỉnh lại chứ? Tôi rán bình tĩnh:
- Tất nhiên. Chỉ một lúc nữa, nọc độc tan là anh ấy tỉnh lại ngay thôi.
Chắc nó không tin, nhưng chỉ yên lặng ngồi ghé trên giường, lom lom nhìn Steve. Tôi thắc
mắc vì sao má chưa lên khi nghe trong phòng tôi ồn ào như vậy. Tôi nhìn qua cửa xuống
cầu thang. Tiếng máy giặt kêu rầm rầm trong nhà bếp. Máy giặt nhà tôi già khọm rồi. Nếu
bạn ở trong bếp, và máy đang hoạt động, bạn sẽ chẳng nghe gì bên ngoài hết.
Quay trở lại, tôi thấy Annie đã xuống giường, mon men lại gần ngắm nghía quý bà Octa. Nó
hỏi:
- Con nhện này của Gánh Xiếc Quái Dị, phải không?
- Phải?
- Làm sao anh có được nó?
- Chuyện đó không quan trọng.
- Sao nó lại ra được?
- Anh thả nó ra.
- Anh… CÁI GÌ?
- Đây không phải lần đầu anh thả nó ra. Gân hai tuần nay anh vẫn thả ra và chơi với nó.
Nếu không có tiếng động thì mọi chuyện rất an toàn. Lúc nãy vì em vào thình lình và la lớn
lên…
- Đừng đổ thừa tại em chứ. Sao anh không cho em biết trước? Nếu biết, em đã không ào vào như vậy.
- Anh tính đợi khi nào thật sự an toàn, anh sẽ cho em biết. Ai ngờ hôm nay Steve tới…
Bỏ lồng nhện vào tủ áo, tôi trở lại ngồi bên Annie, nhìn Steve nằm bất động trên giường. Gần một tiếng sau, Annie e dè lên tiếng:
- Em nghĩ là anh ấy không tỉnh lại nữa đâu. Nếu có thể tỉnh, chân tay phải nhúc nhích chứ. Tôi nổi quạu:
- Con nít biết gì mà nói.
- Phải rồi, em là con nít không biết gì. Còn anh biết gì hơn nào? Nó nắm cánh tay tôi, nói như người lớn:
- Thôi, xuống nói với má đi. Có thể má sẽ biết phải làm sao.
- Lỡ má cũng không biết thì sao?
- Thì phải đưa anh ấy đi bệnh viện.
- Đợi chừng mười lăm phút nữa, nếu Steve không tỉnh lại, chúng mình hãy cho má biết.
- Mười lăm phút nữa?
- Ừa, không hơn một phút.
- Cũng được.
Hai anh em tôi lại ngồi lặng lẽ nhìn bạn tôi.
Nghĩ đến con nhện, tôi tự nhủ: sẽ nói thế nào với má, với bác sĩ đây? Còn cảnh sát nữa chứ? Họ có tin khi tôi cho mọi người biết ông Crepsley là ma-cà-rồng không? Chắc là không! Họ sẽ cho là tôi bịa đặt và tống tôi vào tù. Họ sẽ bảo, con nhện là của tôi, nó cắn Steve, vì vậy tôi sẽ bị kết tội giết người.
Tôi nhìn đồng hồ: còn ba phút nữa. Steve vẫn không có gì thay đổi. Tôi nói với Annie:
- Anh cần em giúp anh.
- Giúp gì?
- Em đừng nói gì tới con nhện.
- Điên. Rồi làm sao anh cắt nghĩa chuyện gì đã xảy ra?
- Anh… anh bảo là lúc đó anh ra ngoài. Mấy vết cắn nhỏ lắm, mà lại đang mờ dần, chắc bác sĩ không nhận ra đâu.
- Không làm thế được. Người ta cần khám nghiệm con nhện.
- Annie, nếu Steve chết anh sẽ bị tội. Có những chuyện anh không thể nói với em, hay bất cứ ai. Nhưng em biết họ sẽ làm gì với một kẻ sát nhân không?
- Anh còn nhỏ xíu, không bị kết tội đó đâu…
Nó nói nhưng không có vẻ tin tưởng chút nào. Tôi lại nói:
- Không đâu. Anh còn nhỏ, chắc không phải vào một nhà tù thực sự, nhưng người ta có một
chỗ giam đặc biệt dành cho trẻ con. Họ giam giữ anh cho đến năm anh được mười tám tuổi,
và rồi…
Tôi bật khóc:
- Annie, xin em giúp anh. Anh không muốn bị vào tù đâu. Nó cũng khóc:
- Không, em không cho ai bắt anh đâu. Em không muốn mất anh đâu.
- Hứa với anh không nói gì đi. Em về phòng, làm như không nghe không biết gì chuyện này
hết.
Nó rầu rĩ gật đầu:
- Nhưng nếu em thấy, nói lên sự thật có thể cứu được anh ấy, nếu bác sĩ bảo không thể cứu anh ấy vì không biết bị con gì cắn, em sẽ nói đấy. Được không?
- Đồng ý.
Nó đứng dậy, đi ra phía cửa, nhưng rồi ngập ngừng dừng lại. Nó đến hôn lên trán tôi, nghẹn ngào nói:
- Em thương anh lắm, Darren. Nhưng anh là một tên ngốc mới đem con nhện đó và nhà mình, và nếu anh Steve chết, em nghĩ anh thật đáng tội.
Rồi nó nức nở chạy ra khỏi phòng.
Đợi Annie đi khỏi, tôi cầm tay Steve năn nỉ nó tỉnh lại, năn nỉ nó ra một dấu hiệu là nó vẫn còn sống. Khi lời cầu xin của tôi không được đáp trả, tôi đứng dậy, mở cửa sổ (để có thể cắt nghĩa lối vào của con vật bí mật), rồi tôi mới chạy xuống thang lầu, gào lên, gọi má tôi. CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI
Mấy cô y tá của xe cứu thương hỏi má tôi, Steve có bị chứng kinh phong hay bệnh tiểu
đường không. Má tôi nói không biết rõ, nhưng bà nghĩ là không. Học còn hỏi nó có bị dị ứng
hoặc bệnh gì đặc biệt không, nhưng má tôi bảo bà không phải là mẹ của Steve nên không
biết.
Tôi tưởng mẹ con tôi sẽ lên cùng xe tải thương với Steve, nhưng nhân viên bệnh viện bảo không đủ chỗ. Họ hỏi tên và số điện thoại của mẹ nó. Nhưng bà không có ở nhà. Một y tá hỏi mẹ tôi có thể lái xe theo, để lập thủ tục (với những gì bà có thể biết về nó) để họ kịp khám và điều trị. Má đồng ý. Bà đẩy cả tôi và Annie lên xe. Ba vẫn chưa về tới, má tôi gọi điện thoại di động cho ông. Ba bảo sẽ tới thẳng bệnh viện.
Tôi ngồi băng sau, cố tránh ánh mắt Annie. Biết là mình nên nói ra sự thật, nhưng tôi quá sợ. Điều đáng trách hơn nữa, tôi biết, nếu kẻ đang bị hôn mê kia là tôi, chắc chắn Steve sẽ không che giấu sự thật.
- Chuyện gì đã xảy ra trong phòng con?
Má hỏi, không quay lại, vì bà đang lái xe với tốc độ rất cao, bám theo xe tải thương. Tôi mừng, vì biết không thể nói dối khi nhìn thẳng mẹ.
- Con không rõ. Đang nói chuyện, rồi con phải đi toa-lét, khi trở lại…
- Con không thấy gì sao?
- Dạ không.
Tai tôi đỏ rần vì xấu hổ.
- Má không hiểu nổi. Người nó cứng đờ, da tái xanh, má tưởng nó chết rồi. Annie chợt nói:
- Con nghĩ là anh ấy bị cắn.
Tôi suýt huých vào mạng sườn nó, nhưng nhớ là nó đã hứa giữ bí mật để bảo vệ tôi. Má
hỏi:
- Bị cắn?
- Trên cổ anh ấy có mấy dấu nhỏ.
- Con thấy à? Nhưng, má nghĩ là không phải bị con gì cắn đâu.
- Sao không? Lỡ có con rắn hay… con nhện bò vào cắn anh ấy thì sao?
- Nhện? Ồ, không đâu, vùng này làm gì có giống nhện đi tìm người để cắn đến hôn mê như
thế.
- Vậy thì là cái gì, má?
- Má không rõ. Có thể nó ăn món gì đó không hợp, hay bị lên cơn đau tim. Annie hỏi:
- Trẻ con mà cũng bị đau tim?
- Có chứ. Nhưng phải đợi bác sĩ khám cho nó xem sao. Bác sĩ biết rõ hơn mẹ con mình.
Trong khi má làm thủ tục, tôi nhìn quanh. Đây là một nơi trắng toát. Tường trắng, sàn nhà
trắng, đồng phục trắng. Khắp nơi có tiếng rì rào nho nhỏ, tiếng lò xo giường và tiếng ho,
tiếng máy chạy rì rì, tiếng dao kéo lách cách và tiếng thì thầm của các y bác sĩ.
Má tôi lại gần, cho biết là Steve đã được nhập viện và đang được chẩn bệnh. Bà bảo:
- Má thấy có vẻ lạc quan, không đến nỗi nào đâu.
Annie kêu khát nước. Tôi dẫn nó đến máy bán nước, nhét đồng kim loại vào máy. Nó hỏi:
- Anh còn định chờ tới bao giờ?
- Chờ xem bác sĩ nói gì sau khi khám cho Steve. Hy vọng họ có thể biết là chất độc gì và điều trị được cho anh ấy.
- Nếu họ không thể?
- Anh sẽ nói ra sự thật.
- Lỡ anh Steve chết trước khi anh nói thì sao?
- Không thể như vậy được. Đừng nói gở thế. Nghĩ gở cũng không nên. Phải hy vọng những gì tốt nhất. Phải hy vọng là anh ấy sẽ vượt qua. Ba má vẫn bảo chúng ta, ý nghĩ tốt sẽ giúp người bệnh mau khỏe lại, đúng không? Steve cần chúng mình tin vào anh ấy.
- Anh ấy cần sự thật hơn.
Chúng tôi cầm ly nước trở lại ghế ngồi, lặng lẽ uống.
Chẳng bao lâu sau, ba tới, vẫn còn mặc áo quần làm việc. Ông hôn má và Annie, bóp mạnh vai tôi. Bàn tay ông làm dính dầu mỡ lên áo tôi. Ông hỏi má:
- Có tin tức gì chưa?
- Chưa, còn đang chờ đây.
Chúng tôi ngồi chờ mấy tiếng vẫn không có gì xảy ra. Rồi mẹ của Steve tới. Mặt bà cũng trắng nhợt như Steve, bà đi thẳng đến tôi. Nắm vai tôi mà lắc:
- Mày đã làm gì nó? Mày đã làm gì con tao? Mày giết chết nó rồi à? Ba tôi quát lên:
- Này! Thôi đi!
Mẹ của Steve không thèm nhìn ba tôi, tiếp tục lắc mạnh tôi hơn:
- Mày đã làm gì nó?
Bà lập đi lập lại, gào lên. Thình lình bà buông tôi ra, lăn đùng xuống nền nhà, kêu la, chửi rủa như một đứa trẻ.
Má tiến lại quỳ xuống, vừa vuốt ve gáy bà ta vừa thì thầm khuyên giải, rồi dìu bà đứng dậy, lại ghế cùng ngồi.
Bà Leonard vừa khóc vừa rên rỉ than thân: bà thiếu bổn phận của một người mẹ ra sao, và
Steve đã ghét cay ghét đắng mẹ đến thế nào.
Má bảo tôi và Annie ra chỗ khác chơi. Anh em tôi vừa bước đi, má gọi lại bảo:
- Darren, bác ấy không la mắng con đâu. Chỉ vì bác ấy quá lo sợ đó thôi.
Tôi gật đầu thiểu não. Má sẽ nói gì nếu biết bà Leonard rất có lý để chửi rủa tôi.
Tôi và Annie chơi chọi đáo cho có việc để làm. Tôi tưởng mình chẳng còn lòng dạ nào để chơi, nhưng chỉ sau vài phút, tôi quên cả Steve lẫn bệnh viện, cuốn hút vào trò chơi. Thật sung sướng, dù chỉ một lát, được quên đi những lo âu và đời sống thật. Nếu không bị mất đồng tiền kim loại, tôi có thể chơi suốt đêm.
Khi trở lại, bà Leonard đã bình tĩnh đang cùng má ngồi làm nốt thủ tục.
Khoảng mười giờ Annie bắt đầu ngáp. Má bảo hai chúng tôi về nhà. Tôi chưa kịp cãi lại, má nói ngay:
- Ở đây con cũng không làm được việc hết đâu. Ngay khi có tin tức gì má sẽ phôn về ngay, dù là nửa đêm. Được chứ?
Tôi bối rối. Đây là dịp cuối cùng để tôi nói về con nhện. Nhưng tôi không biết nói thế nào. Tôi chỉ gật đầu rồi ra khỏi nhà thương.
Ba lái xe đưa anh em tôi về. Tôi tự hỏi, ba sẽ làm gì nếu tôi kể cho ông nghe về con nhện, ông Crepsley và tất cả mọi chuyện. Ba sẽ phạt tôi. Tôi không sợ điều này. Nhưng lý do tôi không nói với ông là: tôi biết ông sẽ xấu hổ vì tôi đã nói dối, đặt sự an toàn của riêng mình trên sự an toàn của Steve. Tôi sợ bị ông khinh ghét.
Về tới nhà, Annie đã ngủ ngon lành trên xe, ba tôi bế nó vào giường. Tôi uể oải về phòng thay quần áo, tiếp tục rủa thầm mình.
Ba nhìn vào phòng tôi hỏi:
- Con không sao chứ?
Tôi gật. Ông bảo:
- Ba tin chắc Steve sẽ khỏe lại. Bác sĩ sẽ phát hiện ra nó bị gì. Họ sẽ chữa trị cho nó mau bình phục thôi.
Tôi lại gật.
Ba đứng tại cửa một lúc nữa, rồi thở dài, đi xuống phòng làm việc.
Đang treo quần vào tủ áo, tôi chợt nhìn thấy cái lồng nhện. Tôi kéo nó ra ngoài. Mụ Octa nằm giữa lồng thở đều đều, êm ả như mọi khi. Tôi ngắm nghía màu sắc của con nhện, nó không còn gây cho tôi chút ấn tượng nào. Rực rỡ, phải, nhưng xấu xí, lông lá, ti tiện. Tôi ghét nó. Nó thật sự là một kẻ vô lại, xỏ lá. Nó cắn Steve chẳng vì lý do gì. Tôi đã cho nó ăn, săn sóc và chơi đùa với nó. Nó trả ơn tôi như thế đó. Tôi lắc cái lồng, rít lên:
- Quái vật khát máu! Đồ vô ơn!
Con nhện bám chặt chân vào song lồng. Điều này càng làm tôi tức điên lên, vừa lắc vừa
quay vòng cho những cái chân lông lá của nó phải buông khỏi nan lồng. Tôi rủa nó bằng đủ mọi từ xấu xí, tồi tệ nhất mà tôi biết. Tôi cầu cho nó chết đi, cầu cho tôi đừng bao giờ nhìn thấy nó nữa, cầu sao mình đủ gan dạ, kéo nó ra khỏi lồng, đạp cho nó tan thây nát thịt.
Khi cơn giận lên cực điểm, tôi ráng sức quăng cái lồng thật xa. Không chủ tâm quăng vào đâu. Nhưng tôi giật thót mình khi thấy nó bay qua cửa sổ. Tôi hốt hoảng chạy lại cửa sổ
nhìn ra. Tôi sợ cái lồng sẽ tan từng mảnh khi chạm đất, vì tôi biết nếu các bác sĩ không cứu được Steve, họ cần có con nhện để nghiên cứu, để tìm ra phương pháp điều trị cho bạn tôi. Nhưng nếu con nhện sổ lồng, trốn mất thì…
Không kịp bắt lại cái lồng nữa, nhưng tôi phải biết nó rơi xuống đâu và có bị tan nát ra
không.
Bên ngoài tối đen, nhưng tôi vẫn có thể thấy cái lồng đang rơi xuống, nhưng… trước khi chạm mặt đất, từ bóng đêm, một bàn tay vươn lên, chụp lấy nó.
Một bàn tay?!?
Tôi nghiêng người ra, nhìn cho rõ. Rồi một người tiến ra. Trước hết tôi thấy bàn tay nhăn nhúm đang xách cái lồng, rồi tôi thấy cái áo khoác dài màu đỏ, chỏm tóc màu cam, cái sẹo dài xấu xí. Và, sau cùng, những cái răng nhọn hoắt đang nhe ra cười.
Ông Crepsley - ma-cà-rồng!
Ông ta đang ngửa mặt cười với tôi!
CHƯƠNG HAI MƯƠI BA
Tôi đứng bên cửa sổ, chờ ông ta biến thành con dơi và bay lên. Nhưng ông ta chỉ lắc nhè nhẹ cái lồng để xem con nhện có sao không.
Rồi, vẫn mỉm cười, ông ta quay đi, biến vào đêm tối.
Tôi đóng cửa sổ, chạy lên giường với trăm ngàn câu hỏi: ông ta đã ở đó bao lâu rồi? Nếu đã biết mục Octa ở đâu, sao không đến lấy lại trước khi những chuyện này xảy ra? Tôi tưởng ông ta tức giận, nhưng dường như ông ta lại tỏ ra hoan hỉ. Sao ông ta không móc họng tôi ra như Steve đã nói?
Không thể nào ngủ được. Lúc này tôi còn khiếp đảm hơn cả đêm đầu tiên tôi trộm con nhện
của ông ta. Lúc đó tôi còn có thể cho rằng, ông ta không biết tôi là ai, vì vậy không thể tìm
ra tôi.
Tôi nghĩ đến việc phải kể cho ba hết chuyện này. Vì một ma-cà-rồng, có lý do để căm thù
gia đình tôi, đã biết nơi chúng tôi ở. Ba cần được biết, để tìm cách đề phòng. Nhưng…
Ba sẽ không tin tôi đâu. Nhất là bây giờ con nhện khổng lồ không còn nữa. Tôi có cố nói thế
nào, thì ba cũng chỉ cho tôi là khùng. Không bao giờ ông có thể tin ma-cà-rồng có thật.
Biết ma-cà-rồng chỉ tấn công sau khi mặt trời lặn, nên tôi nằm trăn trở trên giường, nhưng
rồi tôi cũng chợp được một giấc ngắn. Tuy vậy, giấc ngủ ngắn ngủi cũng đủ làm tôi tỉnh táo
hơn. Tôi thấy mình không có lý do để quá sợ đến thế. Vì nếu muốn giết tôi, ông ta đã giết
ngay trong cuộc chạm trán bất ngờ đêm qua rồi. Ông không muốn, hay chưa muốn, tôi phải
chết.
Trút được gánh nặng lo sợ đó, tôi chỉ còn quan tâm tới Steve và vấn đề thật sự của tôi: có nên nói hết ra sự thật hay không?
Má vẫn ở trong bệnh viện để săn sóc bà Leonard và điện thoại cho bạn bè, hàng xóm biết tin Steve bị bệnh. Khi má về, tôi sẽ kể với bà. Tôi sợ phải nói sự thật với ba.
Chủ nhật đó gia đình tôi yên ắng như tờ. Ba chiên trứng cho bữa điểm tâm, và ông lại làm cháy khét như mỗi khi ông phải vào bếp. Nhưng hai anh em tôi không phàn nàn gì. Thật ra tôi nuốt mà chẳng biết mình đang ăn gì. Tôi không cảm thấy đói. Tôi chỉ ăn để làm ra vẻ bình thường như những chủ nhật khác.
Chúng tôi ăn gần xong thì má phôn về. Ba nghe má nói rất lâu, ông không nói gì, chỉ ậm ừ. Khi ông trở lại bàn, tôi hỏi:
- Steve sao rồi, bà?
- Không hay rồi. Các bác sĩ chưa biết xoay trở làm sao. Có lẽ Annie nói đúng, đó là nọc độc. Nhưng không giống những nọc độc mà các bác sĩ đã từng biết. Họ đã gửi mẫu đến những chuyên gia tại một bệnh viện khác, hy vọng có người biết rõ hơn về nọc độc này. Nhưng… Ông buồn bã lắc đầu. Annie e dè hỏi:
- Anh ấy có thể chết không, ba?
- Có thể.
Annie tấm tức khóc. Ba bế nó lên lòng, nói:
- Nào, nào, đừng khóc chứ. Anh ấy đã chết đâu, cưng. Anh ấy vẫn thở, hình như nọc độc chưa xâm phạm vào não. Nếu người ta tìm ra phương pháp tẩy nọc độc trong thân thể anh ấy, anh ấy sẽ khỏe lại mà.
Tôi hỏi:
- Ba à, Steve còn chịu đựng nổi bao lâu?
- Cứ như tình trạng của nó hiện nay, người ta có thể giữ cho nó sống một thời gian dài bằng… máy.
- Bao giờ người ta mới phải sử dụng đến máy hả ba?
- Họ nghĩ là vài ngày nữa. Có thể vài ngày trước khi hệ thống hô hấp và động mạch vành ngưng hoạt động.
Annie hỏi qua tiếng nức nở:
- Là cái gì, ba?
- Tim và phổi của anh ấy. Khi nào tim và phổi còn hoạt động, thì anh ấy còn sống. Tuy
nhiên người ta phải tiếp đồ ăn bằng một đường dây. Nhưng… nếu Steve ngừng thở là mọi rắc rối thật sự bắt đầu.
Mới hôm qua, bạn tôi có cả một cuộc đời phía trước. Giờ đây sự sống của Steve chỉ còn được tính trong vài ngày! Tôi hỏi:
- Con vào thăm nó được không?
- Nếu con muốn đi, thì chiều nay.
Hôm nay khách thăm chật cứng bệnh viện. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy nhiều hộp sô-cô-la và hoa đến thế. Tôi muốn mua quà cho Steve, nhưng không có tiền.
Tôi tưởng nó nằm bên khu bệnh viện nhi, nhưng nó nằm trong một phòng riêng. Các bác sĩ muốn quan sát để tìm hiểu nó bị bệnh gì. Chúng tôi phải đeo khẩu trang, găng tay và khoác áo màu xanh trước khi được vào thăm.
Bà Leonard đang ngủ trên một ghế bành. Má ra dấu cho chúng tôi giữ im lặng. Bà lần lượt ôm cha con tôi, rồi thì thầm với ba:
- Hồ sơ thí nghiệm đã gửi về, không có kết quả gì.
- Chắc chắn phải có ai biết chứ. Có bao nhiêu loại nọc độc khác nhau?
- Hàng ngàn. Họ đã gửi mẫu đi những bệnh viện nước ngoài. Hy vọng những nơi đó sẽ có hồ sơ vè nọc độc này. Nhưng phải mất một thời gian chúng ta mới nhận được.
Tôi nhìn Steve. Nó nừam bẹp trên giường. Ống truyền gắn vào một cánh tay. Dây nhợ lằng nhằng trên ngực nó. Những dấu kim lấy máu đi xét nghiệm còn đầy trên tay. Mặt nó cứng đờ, trắng như tờ giấy.
Tôi bật khóc, khóc nức nở nghẹn ngào. Má ôm chặt tôi, nhưng chỉ làm tôi khổ sở thêm. Tôi nói với má về con nhện, nhưng tôi khóc đến nỗi làm má không nghe rõ được câu nào.
Má đẩy chúng tôi ra khỏi phòng, nhường chỗ cho họ hàng của Steve lũ lượt vào thăm nó. Má gỡ khẩu trang và lau nước mắt cho tôi, bảo:
- Tốt rồi.
Bà chọc nách cho tới khi tôi cười, bà nói:
- Nó sẽ qua khỏi. Má biết trông nó có vẻ nguy kịch lắm. Nhưng các bác sĩ đang làm việc hết
khả năng. Chúng ta phải tin tưởng và hy vọng vào những đều tốt lành nhất. Đồng ý không
nào?
- Con đồng ý.
Tôi thở dài. Annie bảo:
- Em thấy anh ấy có vẻ khá hơn rồi đấy.
Tôi xiết tay Annie, nhìn nó đầy biết ơn. Ba hỏi má:
- Em về bây giờ chưa?
- Em cũng chưa biết. Có lẽ em ở lại, phòng khi…
- Angela, lúc này em làm như vậy là đầy đủ rồi. Anh chắc đêm qua em chẳng ngủ được chút nào…
- Có ngủ một chút.
- Vậy nếu ở lại, cả ngày hôm nay em sẽ lại mất ngủ. Đã có người khác săn sóc mẹ con Steve rồi. Về thôi, Angie.
Ba gọi má là “Angie” mỗi khi dỗ dành bà làm theo ý ông.
- Thôi được. Tối em trở lại xem có việc gì không.
- Đúng vậy.
Trên đường về tôi chỉ nghĩ đến Steve. Tôi nghĩ đến nọc độc đang ở trong huyết quản nó và cảm thấy chắc chắn các bác sĩ sẽ thất bại trong việc điều trị cho nó. Không một bác sĩ nào trên thế giới từng biết đến một con nhện như quý bà Octa.
Dù nhìn Steve hôm nay đã thê thảm quá rồi, nhưng tôi tin chỉ vài ngày nữa trông nó còn thảm thương hơn gấp bội. Tưởng tượng nó phải nối với cái máy thở, trùm mặt nạ, những ống cao su luồn vào cơ thể, tôi không thể nào chịu nổi.
Chỉ có một cách còn có thể cứu Steve. Chỉ một người biết về thứ nọc độc này và biết cách hóa giải nó.
Ông Crepsley!
Xe về đến nhà. Tôi đã quyết định xong. Tôi sẽ truy lùng bằng được ông ta, bắt ông bằng mọi giá, phải cứu mạng Steve.
Trời tối, tôi sẽ lẻn ra khỏi nhà, đi tìm ma-cà-rồng. Tôi sẽ đến những nơi tôi nghĩ có thể tìm
được ông Crepsley. Nếu tôi không ép buộc được ông ta… … Tôi sẽ mãi mãi chẳng quay về
CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN
Tôi phải đợi tới gần mười một giờ. Tôi đã định đi sớm hơn lúc má còn ở bệnh viện, nhưng có mấy người bạn của ba dẫn con họ đến chơi. Tôi phải tiếp chúng nó.
Khoảng mười giờ má về nhà. Bà bị mệt, nên ba vội vàng tiễn khách. Sau đó hai ông bà ngồi trong bếp uống cà phê và nói chuyện, rồi mới lên lầu đi ngủ.
Đợi ba má ngủ say, tôi mới chuồn ra ngoài bằng cửa sau.
Tôi đi như bay trong đêm tối. Một bên túi, tôi thủ một cây thánh giá tìm thấy trong hộp nữ trang của má. Túi kia là một lọ nước thánh, một bạn bốn phương gửi tặng ba từ mấy năm trước. Tôi không tìm được cây gậy nào. Định đem theo một con dao, nhưng tôi là đứa rất vụng về với dao kéo, chỉ tổ cắt đứt chính tay mình.
Rạp hát cũ kỹ tối om om và vắng ngắt. Lần này tôi vào bằng cửa chính.
Tôi không biết sẽ phải làm gì nếu không gặp ma-cà-rồng tại đây, nhưng tôi cảm thấy là sẽ gặp. Giống hôm Steve ném những miếng giấy kèm theo cái vé lên không, tôi nhắm mắt, xòe tay như một người mù. Đó là định mệnh.
TẬP 2 :
ĐỆ TỬ CỦA MA-CÀ-RỒNG
THE VAMPIRE'S ASSISTANT
Sau buổi xem Gánh Xiếc Quái Dị trình diễn, cuộc đời cậu bé Darren Shan hoàn toàn
thay đổi và phải bỏ nhà ra đi ... Trở thành đệ tử của ma-cà-rồng. Shan đã phải nỗ lực phấn đấu chống lại việc sử dụng thủy ngân đỏ (máu) để sống còn. Nhưng một cuộc đọ sức rùng rợn với Người Sói có thể làm thay đổi tất cả ...
GIỚI THIỆU
Tôi tên là Darren Shan : nửa người - nửa ma-cà-rồng.
Tôi đã bình thường, sống cùng ba má và em gái Annie của tôi. Tôi thích đi học và có nhiều
bạn.
Tôi rất mê truyện và phim kinh dị. Khi một gánh xiếc quái dị đến thị trấn, Steve Leonard, thằng bạn thân nhất của tôi, mua được vé để hai chúng tôi cùng đi xem. Tuyệt lắm: rất kỳ lạ, thật phi thường! Một đêm diễn không thể nào quên được.
Nhưng phần kỳ lạ nhất lại là những gì xảy ra sau đêm diễn. Thằng Steve phát hiện ra: một trong những diễn viên là… ma-cà-rồng! Nó lén lút ở lại, nài nỉ ông Crepsley giúp nó trở thành ma-cà-rồng như ông ta! Nhưng ông Crepsley khám phá ra: Steve mang dòng máu xấu của ma quỷ, nên từ chối.
Tất cả sẽ chấm dứt tại đó, nếu như tôi đã không lén ở lại, theo dõi thằng Steve.
Tôi chẳng tha thiết gì với chuyện ma-cà-rồng này, nhưng tôi lại rất mê loài nhện. Và ông
Crepsley thì lại có một bạn diễn là con nhện độc rất tuyệt vời: quý bà Octa. Tôi đã bắt trộm con nhện đó của ông ta và để lại một lá thư hăm dọa: “Sẽ cho mọi người biết, thật sự ông là ai”, nếu ông ta tìm kiếm tôi.
Nói ngắn gọn lại, sau đó con nhện độc đã cắn Steve. Để cứu nó thoát chết, tôi đã năn nỉ ông Crepsley. Ông ta đồng ý với một điều kiện: tôi phải đi theo ông ta làm đệ tử, trở thành nửa người nửa ma.
Sau khi Steve được cứu sống, tôi đã bỏ trốn khỏi ông ta. Nhưng rồi, tôi phát hiện, tôi bị thôi thúc bởi nhu cầu thèm khát máu, đã có lần suýt cắn cả em gái mình.
Tôi không thể ở lại nhà được nữa.
Ông Crepsley giúp tôi bằng cách tạo ra một cái chết giả. Tôi bị chôn sống. Nhưng giữa đêm khuya vắng vẻ, ông ta đã đưa tôi ra khỏi mồ. Tối đó chúng tôi sát cánh bên nhau. Những ngày làm người của tôi chấm dứt. Những đêm làm đệ tử ma-cà-rồng bắt đầu.
CHƯƠNG MỘT
Đó là một đêm khô ráo, ông Stanley Collins từ buổi họp mặt hướng đạo trở về nhà. Đường không xa lắm, chừng gần một dặm thôi, và tuy đi trong đêm tối, nhưng con đường này ông thuộc như lòng bàn tay.
Stanley là một huynh trưởng hướng đạo. Ông mê hướng đạo từ ngày còn nhỏ và cho đến
bây giờ ông vẫn gắn bó với tổ chức này. Ba người con trai của ông cũng gia nhập hướng đạo từ bé. Các con ông đều đã trưởng thành, có nhà cửa riêng và cũng đang hướng dẫn những hướng-đạo-sinh nhỏ tuổi tại địa phương.
Mặc dù đêm nay đẹp trời, nhưng chỉ phong phanh cái quần soọc và cái áo may-ô, ông cảm thấy chân tay nổi da gà, nên rảo bước cho ấm. Không sao, về đến nhà, vợ ông thế nào cũng đã pha sẵn cho ông một tách sô-cô-la nóng hổi và vài cái bánh nướng ngon lành. Càng ngon lành hơn sau chuyến đi thú vị này.
Những hàng cây ven đường làm mặt đất tối tăm hơn. Nếu ai không quen đường chắc sẽ gặp không ít nguy hiểm. Nhưng ông Stanley chẳng sợ gì, trái lại, ông yêu thích cảnh đêm, thích nghe tiếng xào xạc của bước chân mình trên cỏ.
Ông mỉm cười, nhớ lại ngày các con còn nhỏ, mỗi khi về nhà vào ban đêm, ông hù mấy đứa nhỏ là có quái vật trên cây. Ông gầm gừ đe doạ và rung các cành lá rào rào, làm chúng la hét cắm đầu chạy một mạch về nhà. Stanley vừa chạy theo các con vừa cười ha hả.
Những đêm khó ngủ, ông nằm tưởng tượng tiếng chân mình bước trên cỏ, xào xạc, xào xạc, thế là giấc ngủ nhẹ nhàng tới và dìu ông vào những giấc mơ êm đềm, vui vẻ.
Với ông Stanley, đó là những âm thanh dễ thương nhất thế giới: gây cho người ta cảm giác an toàn khi ở một mình.
Xào xạc. Xào xạc.
RẮC!
Ông vội dừng chân. Hình như có tiếng cành cây gãy. Nhưng ở đâu? Ông không có cảm giác đạp gãy cành nào. Quanh đây làm gì có bò dê?
Ông đứng lắng tai nghe, chẳng thấy gì. Lắc đầu mỉm cười, ông cho mình khéo giàu tưởng tượng. Nghe kể lại chuyện này, vợ ông lại sẽ rũ ra cười nhạo.
Ông tiếp tục bước đi. Xào xạc, xào xạc.
Có gì đâu? Với đôi tai của một huynh trưởng hướng đạo thính như tai cáo, nếu có tiếng động lạ, hẳn ông đã…
RẮC!
Stanley đứng khựng lại. Lần đầu tiên ông cảm thấy hồi hộp.
Không. Không là tưởng tượng. Rõ ràng ông nghe thấy tiếng cành cây gãy, hình như ngay trên đầu ông. Hơn nữa, trước tiếng “rắc” là tiếng sột soạt, như có vật gì di động.
Ông Stanley ngẩng lên nhìn. Trời tối đen như mực, nếu có một quái vật to đùng bằng cả chiếc ô tô trên cây, ông cũng chẳng thể nào thấy được.
Nhưng làm gì có quái vật, quỷ ma? Ngốc ơi là ngốc! Vừa tự giễu mình, Stanley vừa nâng cao chân bước. Nhưng bàn chân chưa kịp hạ tới đất thì…
RẮC!
Bàn chân thì lơ lửng trên mặt đất chừng vài phân, còn tim đập thình thịch. Không phải sóc. Chắc chắn là một con vật to lớn hơn.
RẮC!
Lần này tiếng động lớn hơn… và gần hơn. Stanley bắt đầu chạy.
Tuy vẫn con khoẻ mạnh, nhưng đã lâu rồi ông không còn chạy nhanh như thế này bao giờ,
nên sau khoảng một trăm mét, ông bị hụt hơi. Stanley phải ngừng lại thở. Rắc rắc! Rắc rắc!
Ông ngẩng phắt đầu, nghe ngóng.
Tiếng bước chân đang tiến lại gần! Chậm chạp, nặng nề. Tiếng chân càng lại gần, Stanley càng thêm khiếp đảm.
Khi tiếng chân ngừng lại. Stanley đã nhận ra một bóng người trong tối. Nó nhỏ hơn ông tưởng. Lấy hết can đảm ông tiến lại gần.
Thì ra là một đứa con trai. Một đứa con trai nhỏ bé, áo quần bẩn thỉu, mặt mày thảng thốt.
Ông Stanley mỉm cười, lắc đầu. Mình chết nhát thật. Lại thêm chuyện cho bà ấy cười cả
ngày.
Ông hỏi thằng nhỏ:
- Cháu không sao chứ?
Nó không trả lời. Ông không biết nó là con cái nhà ai, vì gần đây nhiều gia đình mới dọn về vùng này. Ông chưa biết mặt hết đám trẻ.
- Cháu bị lạc à? Có cần chú giúp gì không?
Nó chỉ nín thinh lắc đầu. Nó có một vẻ khác lạ, làm ông không yên tâm. Có thể tại bóng tối
và cảnh hoang vu, tĩnh lặng quá, nhưng trông thằng bé quá xanh xao, quá gầy yếu và… quá
đói.
- Này, cháu có cần ta…
RẮC! Tiếng động lớn ngay trên đầu ông Stanley. Thằng bé bật nhảy thụt lùi, nhường chỗ…
Stanley chỉ kịp ngước nhìn, để thấy một cái bóng to lớn màu đỏ - gần giống như một con dơi - đang buông mình xuống, loáng thoáng qua những cành lá rào rào.
Rồi cái vật màu đỏ đó phủ lên ông. Stanley chưa kịp cất tiếng kêu, bàn tay (móng vuốt thì đúng hơn) của quái vật kia bịt kín miệng ông. Chỉ một chút vùng vẫy chống cự, Stanley rũ trên mặt đất, không nhìn, không nghe, không biết gì nữa. ông bị ngất đi.
Hai sinh vật của đêm tối tiến lại con mồi.
CHƯƠNG HAI
Vừa lật nạn nhân lên, ông Crepsley vừa lèm bèm :
- Già thế này mà còn diện đồng phục hướng đạo. Tôi hỏi:
- Đã bao giờ ông gia nhập hướng đạo chưa?
- Thời đại của ta, làm gì có hướng đạo. Đùi lão này nung núc thịt. Nhiều máu lắm đây. Ông ta tìm mạch máu rồi dùng móng tay, cắt một vết nhỏ.
Tôi áy náy đứng nhìn ông ta ghé miệng vào vết cắt.
Đây là lần thứ ba tôi tham gia, tiếp tay ông Crepsley tấn công nạn nhân, nhưng tôi vẫn không thể quen với hình ảnh này.
Đã gần hai tháng, kể từ sau “cái chết” của tôi, nhưng tôi vẫn chưa thích nghi được với
những đổi thay. Tôi vẫn chưa thể tin cuộc sống cũ của tôi đã hoàn toàn chấm dứt, không bao giơ trở lại như trước kia được nữa. Tôi biết rồi đây, sớm muộn gì, tôi cũng phải lìa xa đời sống của một con người bình thường. Nhưng sao khó quá.
Ông Crepsley, ngẩng lên, liếm môi, bảo tôi:
- Tới mi đó.
Tôi tiến gần mấy bước, nhưng rồi ngừng lại, lắc đầu:
- Tôi không thể.
- Mi ngu hơi bị lâu đấy. Bỏ lỡ hai lần rồi. Uống đi.
- Tôi không thể.
- Mi đã uống máu thú vật.
- Chuyện đó khác. Còn đây là người.
- Thì sao nào? Chúng ta có phải là người đâu. Mi phải bắt đầu coi người và vật như nhau. Ma-cà-rồng không thể sống thuần bằng máu loài vật được. Nếu mi cứ tiếp tục từ chối, mi sẽ yếu dần rồi chết.
- Tôi biết. Ông đã cắt nghĩa nhiều lần rồi. Tôi cũng biết chúng ta không làm những người đó đau đớn hay giết chết họ, nếu chúng ta chỉ sử dụng một phần vừa đủ thôi. Nhưng…
Tôi đau khổ rùng mình. Ông ta thở dài:
- Thôi được, cũng còn may mi còn phân nửa tính người và cái đói chưa thôi thúc lắm. Nhưng lần sau, chính vì lợi ích của mi, ta không để cho mi kiêng cữ nữa đâu.
Vừa nói, ông ta vừa lau chùi vết thương trên đùi người đàn ông. Khoảng một phút, nơi bị
cắt đã lành lặn, chỉ còn một vệt rất mờ. Khi tỉnh lại, nạn nhân sẽ không hề nhận ra.
Đó là cách tự bảo vệ của ma-cà-rồng. Họ không giết người như trong phim. Chỉ “xin” nạn nhân một chút “thuỷ ngân đỏ quý giá” (theo kiểu nói của ông Crepsley).
Có khi họ tấn công người nơi vắng vẻ, có khi họ lẻn vào phòng ngủ, bệnh viện, nhà giam lúc đêm khuya. Những người bị “ăn trộm” chất lỏng quý giá đó, đều không ngờ mình đã tiếp tay nuôi sống ma-cà-rồng.
Khi tỉnh dậy các nạn nhân chỉ nhớ lơ mơ, bị một bóng đỏ tấn công. Họ không hề biết vì sao lại ngất đi, và trong khi đó chuỵên gì đã xảy ra. Nếu phát hiện ra vết sẹo, họ cứ nghĩ đó là dấu vết của người ngoài hành tinh để lại. Chẳng ai nghĩ đến ma-cà-rồng.
Người ngoài hành tinh! Đâu có ai ngờ ma-cà-rồng chính là nguyên nhân của những vật thể lạ. Đó là cái vỏ bọc tuyệt vời để che giấu hành tung của họ. Con người trên khắp thế giới, khi tỉnh lại, nếu phát hiện những sẹo nhỏ trên thân thể, đổ lỗi ngay cho những người ngoài hành tinh tưởng tượng.
Ông Crepsley làm cho tay huynh trưởng hướng đạo mê man bằng hơi thở. Ma-cà-rồng thở ra một làn hơi đặc biệt làm cho con người bị ngất đi. Khi cần “gây mê” một người, ông Crepsley phà hơi thở vào nắm tay, rồi đưa lên mũi và miệng kẻ đó. Ít nhất từ hai mươi tới ba mươi phút sau nạn nhân mới hồi tỉnh.
Nhìn ông Crepsley nhẹ nhàng săn sóc nạn nhân, tôi có cảm giác ông ta là một người tốt, nếu… ông ta không là một ma-cà-rồng.
Đứng dậy, ông Crepsley bảo tôi:
- Nào, chúng ta đi tìm một con chồn hay thỏ cho mi vậy.
- Ông không bực mình vì tôi từ chối uống thứ này chứ?
- Trước sau gì, mi cũng sẽ uống.
Khi ông ta quay đi, tôi thầm nhủ:
- Không, không bao giờ.
CHƯƠNG BA
Xế trưa tôi thức dậy như thường lệ, dù tôi cũng đi ngủ trước rạng đông như ông Crepsley. Trong khi ông ta ngủ tới trời sụp tối, tôi vẫn có thể thoải mái đi loanh quanh trong ánh sáng ban ngày. Đó là lợi điểm của một ma-cà-rồng nửa mùa như tôi.
Tôi điểm tâm muộn bằng miếng bánh mì nướng phết mứt cam - ma-cà-rồng cũng cần phải
có những món ăn bình thường - rồi ngồi trước màn hình TV của khách sạn. Ông Crepsley
không ưa khách sạn, chỉ quen ngủ trong những ngôi nhà đổ nát, những chuồng trại bỏ
hoang, hoặc những hầm mộ trong khu vực nhà thờ. Sau một tuần chui rúc kiểu đó, tôi đã nói
thẳng là tôi không chịu nổi nữa. Ông càu nhàu nhưng cuối cùng cũng chiều theo ý tôi.
Quá bận bịu với việc học để trở thành phụ tá ma-cà-rồng, nên hai tháng trôi qua thật mau. Ông Crepsley không phải là một ông thầy kiên nhẫn, không thích lặp lại lời giảng giải, vì vậy tôi phải chăm chú học hỏi cho kịp.
Nhờ vậy, bây giờ tôi rất mạnh. Nâng những trọng lượng lớn và có thể bóp vụn những cục đá. Tôi còn có thể ném tạ xa hơn tất cả những người lớn bình thường (một hôm tôi đo tầm xa sức ném, rồi kiểm tra lại trong sách: tôi đã tạo được kỉ lục mới trên thế giới). Móng tay tôi dày và cứng đến nỗi kéo và kìm bấm không làm hề hấn gì, chỉ có thể cắn bớt bằng răng. Mỗi lần thọc tay vào túi, tôi làm vải túi rách tả tơi!
Từ sau đêm rời nghĩa trang, chúng tôi đã vượt một chặng đường xa. Lúc đầu, để tránh con mắt mọi người, ông Crepsley cõng tôi di chuyển vù vù bằng tốc độ chóng mặt của ma-cà-
rồng. Khả năng này được gọi là thuật phi hành. Nhưng phi hành là một công việc rất hao tổn sức lực, vì vậy mấy đêm sau chúng tôi phải sử dụng xe buýt hoặc tàu hoả.
Tôi không biết ông Crepsley lấy tiền đâu cho chuyến đi này. Tôi không thấy ông có ví đựng
tiền, cũng không có ngân phiếu, nhưng mỗi khi phải chi trả thức ăn, khách sạn… là rút ra ngay toàn tiền mặt.
Tối nào tôi cũng ngắm nghía mình trong gương, xem mình đã mọc nanh chưa. Một tối ông Crepsley bắt gặp. Ông ngạc nhiên hỏi:
- Mi làm gì vậy?
- Xem thử đã có cái nanh nào mọc chưa.
Ông trợn mắt nhìn tôi đến mấy giây rồi cười sặc sụa:
- Chúng ta không mọc nanh đâu, ngốc.
- Thế thì… làm sao cắn được người?
- Chúng ta không cắn người. Chỉ sử dụng móng tay để rạch một vết nhỏ xíu thôi. Trong trường hợp khẩn cấp, không tránh khỏi, mới phải dùng răng.
- Vậy là… chúng ta không có nanh?
- Không. Răng chúng ta rắn chắc hơn răng người thường. Nếu muốn, mi có thể cắn thấu
thịt xương. Nhưng… tởm lắm. Chỉ những ma-cà-rồng ngu ngốc mới dùng răng. Những loại ngu ngốc như thế sẽ không thọ được, chúng sẽ bị truy lùng và giết chết.
Tôi hơi thất vọng. Nanh la thứ tôi khoái nhất khi xem phim kinh dị. Nhìn ma-cà-rồng nhe nanh trên màn ảnh rùng rợn vô cùng. Đã lắm.
Nhưng nghĩ lại, tôi thấy không có nanh cũng đỡ phiền phức. Vì riêng vụ móng tay làm thủng túi cũng đủ khó chịu rồi. Nếu răng dài ra, chắc chắn tôi sẽ cắn vụn hai bên má mất.
Hầu hết những chuyện cổ về ma-cà-rồng đều tán nhảm. Làm gì có chuyện chúng tôi có thể
thay hình đổi dạng, hay bay phơi phới trên không. Nước thánh và thánh giá đâu có thể làm
hại được chúng tôi như trong chuyện đó tả. Tỏi chỉ làm hơi thở chúng tôi bị hôi thôi. Nhìn
vào gương, chúng tôi vẫn thấy mình phản chiếu, và chúng tôi cũng có bóng như những người
bình thường.
Nhưng một số truyền thuyết thì lại đúng: người ta không thể chụp hình, hay quay phim được ma-cà-rồng. Phim chụp, phim video đều bị tối đen, chẳng nhìn thấy gì. Riêng với trường hợp của tôi, bạn vẫn có thể chụp, nhưng dù ánh sáng rất đầy đủ, bạn cũng không thể có được một tấm ảnh rõ ràng đâu.
Ma-cà-rồng rất thân thiện với chuột và dơi. Chúng tôi không thể biến thành dơi hay chuột như trong sách và phim quả quyết, nhưng hai loài này rất quý chúng tôi - chúng đánh hơi và phát hiện máu của chúng tôi khác với con người. Chúng thoải mái loanh quanh gần chúng tôi tìm kiếm đồ ăn vương v-ãi, hay leo lên người khi chúng tôi ngủ.
Trái lại, chó và mèo rất ghét ma-cà-rồng.
Ánh sáng mặt trời có thể giết ma-cà-rồng, nhưng không cấp kỳ. Nếu được cuốn vải khắp
quanh thân mình, ma-cà-rồng có thể ra ngoài vào ban ngày, nhưng da bị ăn nắng rất nhanh:
chỉ mười lăm phút là da bị đỏ rộp. Năm hay sáu tiếng phơi nắng đủ để giết một ma-cà-
rồng.
Đúng là một cây gậy đâm qua tim sẽ giết chết chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng có thể bị
chém chết bằng gươm dao, súng đạn, trấn nước, điện giật và một số bệnh tật. Chúng tôi mạnh hơn, khó giết hơn những người thường, nhưng chúng tôi không phải là những sinh vật không thể huỷ diệt được.
Tôi còn phải học nhiều, rất nhiều. Ông Crepsley bảo cần phải học nhiều năm nữa, tôi mới
có thể xông pha một mình. Theo ông, một ma-cà-rồng không hiểu rõ hành động của mình sẽ
chết trong vòng vài tháng, vì vậy, dù muốn hay không, tôi phải gắn liền với ông như keo sơn.
Ăn hết bánh mì nướng, tôi ngồi cắn móng tay hàng giờ. Chương trình ti vi dở ẹc, nhưng tôi không muốn ra ngoài một mình. Chúng tôi đang ở trong một thị trấn nhỏ bé, con người ở đây làm tôi lo ngại. Họ luôn gây cho tôi cảm giác, họ biết tôi là gì và sắp sửa nhào vào tôi với một cây gậy vót nhọn đầu.
Đêm xuống, ông Crepsley thức dậy, xoa bụng nói:
- Ta đói quá rồi. Nào, ra ngoài tìm xem có thằng cha hướng đạo nào nữa không. Lần này mi phải cùng ta thưởng thức “thuỷ ngân đỏ”. Được chứ?
- Có thể.
Tuy trả lời vậy, nhưng tôi biết là không thể. Tôi đã thề không bao giờ làm chuyện đó. Có thể
đành sử dụng máu của thú vật để sống còn, không đời nào tôi đụng đến máu đồng loại, mặc
cho ông Crepsley nói sao cũng được. Dù sao tôi vẫn còn tính người, chỉ nghĩ đến chuyện tấn
công một người sống để lấy nguồn sống cho mình, cũng đủ làm tôi khiếp đảm và ghê tởm.
CHƯƠNG BỐN
Ông Crepsley bỏ ra rất nhiều thời gian để dạy tôi về chất “thuỷ ngân đỏ quý giá” của con
người. Đó là nguồn sống, là chuyện sống còn của ma-cà-rồng. Không có nó, chúng tôi sẽ suy
kiệt, già yếu và chết. Nó giúp cho chúng tôi kéo dài tuổi trẻ. Tuổi của ma-cà-rồng gấp mười
lần tuổi loài người. Nhưng nếu không có nó, chúng tôi sẽ già trước con người từ hai mươi,
thậm chí ba mươi năm. Trường hợp của tôi, chưa hoàn toàn là một ma-cà-rồng một trăm
phần trăm, nên không cần sử dụng máu nhiều như ông Crepsley, nhưng vẫn phải có mới
sống được.
Máu loài vật - như chó, bò, cừu cũng có thể giúp chúng tôi qua ngày. Nhưng chúng tôi phải
tránh sử dụng máu của một số loài, chẳng hạn như mèo. Đối với ma-cà-rồng, máu mèo
chẳng khác nào thuốc độc. Chúng tôi cũng phải kiêng cữ với khỉ, cóc, rất nhiều loài cá và
rắn nữa.
Có quá nhiều loài vật nguy hiểm đối với chúng tôi, nên ông Crepsley không thể nói hết được. Ông khuyên tôi, luôn luôn phải hỏi ông, trước khi sử dụng máu của một loài thú mới, để biết loài nào an toàn, loài nào độc hại.
Ông cũng cắt nghĩa cho tôi, là không bao giờ được nhịn quá lâu, để khi có dịp sẽ tham lam
làm kiệt quệ máu của một con người và gây tử vong cho người đó. Cũng không bao giờ được sử dụng máu người chết quá một ngày. Nguồn máu xấu đó sẽ làm chúng tôi bị bệnh, điên loạn, thậm chí có thể chết.
Ông ta cũng hứa sẽ dạy tôi cách tồn trữ “thuỷ ngân đỏ” trong chai.
Tôi phải làm sao đây? Nếu dùng máu người như một thứ lương thực, tôi sẽ không bao giờ trở lại kiếp người được nữa! Mong sao máu ma-cà-rồng trong tôi sẽ nhạt phai dần. Và tôi sẽ không chết, chỉ cái phần ma quái - ông ta truyền vào tôi- bị chết thôi. Tôi sẽ trở về nhà, sống cùng gia đình và bè bạn như xưa.
Nhưng hy vọng quá mong manh - ông Crepsley bảo, không bao giờ tôi có thể trở lại là một người bình thường được nữa. Tôi tin lời ông nói. Nhưng trở lại kiếp người mãi mãi là giấc mơ duy nhất của tôi.
CHƯƠNG NĂM
Suốt bao đêm ngày, chúng tôi cứ tiếp tục đi, từ làng quê tới thị thành. Tôi vẫn chưa thể thân thiện được với ông Crepsley. Dù ông ta cư xử rất tốt, nhưng tôi không thể nào quên, chính ông đã truyền dòng máu ma quái vào trong tôi, làm tôi bắt buộc phải rời bỏ gia đình.
Tôi căm ghét ông ta. Nhiều khi vào ban ngày, trong khi ông ta ngủ, tôi đã nghĩ đến chuyện
đâm một cây gậy nhọn xuyên suốt tim ông, rồi bỏ trốn. Việc đó với tôi không khó, nhưng tôi biết tôi sẽ không sống nổi, nếu không có ông ta. Tôi còn cần đến ông ta trong một thời gian nữa. Khi tôi có thể tự xoay xở, tôi sẽ…
Tôi được ông Crepsley giao việc chăm sóc con nhện độc, quý bà Octa: kiếm tìm mồi ăn cho
nó, lau rửa chuồng và cùng nó tập luyện những trò mới. Tôi ghét con nhện này cũng nhiều
như căm ghét ma-cà-rồng. Nhưng ông Crepsley bảo tôi đã ăn trộm nó, bây giờ tôi phải săn sóc
nó.
Càng ngày tôi càng lơ là với con nhện, và nó cũng không còn gắn bó với tôi như trước nữa.
Duy nhất một điều còn chút thú vị là tôi được đi nhiều, thấy nhiều. Nhưng vì chúng tôi
thường di chuyển vào ban đêm, nên không được nhìn ngắm nhiều cảnh trí xung quanh.
Một hôm, khi ông Crepsley ngáy khò khò, tôi phát chán vì phải ngồi mãi trong nhà. Viết mấy chữ, để lại trên nóc ti vi, rồi tôi bước ra đường. Tiền ít, không chủ tâm đi đâu, nhưng được ra khỏi khách sạn, lang thang một mình là tuyệt quá rồi.
Đây là một thị trấn lớn, nhưng khá yên tĩnh. Tôi rảo qua mấy cửa hàng đồ chơi trẻ em, chơi một số trò chơi vi tính không mất tiền. Tôi là một đứa chơi game không giỏi, nhưng với khả năng khéo léo, nhanh nhẹn mới có được, tôi dễ dàng nhấp chuột theo ý muốn: vượt vèo vèo qua mọi chướng ngại vật, hạ tất cả các đối thủ ngoài hành tinh rụng rơi lả tả.
Sau đó, tôi dạo quanh thị trấn, ngắm nghía những công viên, suối nước và những pho tượng. Nhưng những bảo tàng lại làm tôi nhớ mẹ nôn nao. Bà thường dẫn tôi đến bảo tàng. Tôi luôn cảm thấy cô đơn khủng khiếp mỗi lần nhớ đến ba má và Annie.
Rồi tôi bắt gặp một nhóm trẻ con cỡ tuổi tôi, đang chơi khúc côn cầu. Mỗi bên có tám cầu thủ. Đa số cầm gậy bằng plastic, những cũng có mấy đứa cầm gậy gỗ. Chúng chơi bằng một quả banh ten-nít cũ.
Tôi đứng xem chừng mấy phút, một thằng chạy đến ngó tôi từ đầu đến chân, hỏi:
- Ê, mày từ đâu xuất hiện vậy?
- Ngoài thị trấn, tao ở trong khách sạn với ba tao.
Tôi rất ghét phải gọi ông Crepsley là cha, nhưng đó là cách an toàn nhất.
Thằng nhóc quay lại gào lên với đám bạn đã ngừng chơi, đang dồn những cặp mắt tò mò về phía tôi.
- Nó từ ngoài thị trấn tới.
- Từ chuyện cổ tích chui ra hả?
Một thằng gào lại, rồi cả bọn lăn ra cười. Tôi hỏi:
- Tụi nó nói gì vậy?
- Cậu không soi gương bao giờ sao?
Tôi nhìn xuống bộ quần áo bụi bặm và chợt hiểu lí do chúng nó cười: trông tôi như một nhân vật trong truyện cổ bước ra. Tôi nói dối:
- Tao bị mất trộm hết vali quần áo. Đang định đi mua đồ mới đây.
Nó cười cười hỏi tôi biết chơi khúc côn cầu không. Tôi gật. Nó rủ tôi vào chơi với chúng nó:
- Cậu chơi bên mình nhé. Tụi tớ thua 6-2 rồi. Tên tớ là Michael.
- Mình là Darren.
Trong lúc tôi xắn cao ống quần, thắt chặt lại dây giày bên Michael thủng lưới thêm quả nữa. Michael vừa **** thề vừa đưa bóng vào giữa sân. Nó hỏi tôi:
- Tấn công chứ?
- Chơi luôn.
- Vậy thì tiến lên.
Nó đưa bóng về phía tôi, rồi chạy lên đón đầu.
Ở trường, tôi chơi cả bóng đá và khúc côn cầu. Giờ đây, gậy trong tay, bóng dưới chân, tôi cảm thấy mọi chuyện như mới xảy ra hôm qua.
Tung hứng quả bóng mấy lần, để biết chắc mình chưa quên khả năng điều khiển bóng, rồi tôi nhắm khu cầu môn đối phương.
Bảy cầu thủ làm hàng rào giữa tôi và thủ môn. Chúng đứng tỉnh bơ, không đứa nào nhào tới ngăn chặn tôi. Chắc chúng nghĩ tôi là tay gà mờ, không đáng quan tâm.
Tôi di chuyển. Thằng đội trưởng phe kia ráng cản đường, tôi nhẹ nhàng lách khỏi nó. Lách qua thêm hai đứa nữa, trước khi chúng kịp có phản ứng, rồi tôi lướt qua thằng thứ tư. Tay thứ năm lăm lăm cây gậy ngang tầm đầu gối, nhưng tôi vọt qua nó, làm sững sờ thằng thứ sáu, và đánh tung quả bóng vào lưới trước khi thằng hậu vệ kịp chạy về.
Mặc dù tôi chỉ đánh nhẹ thôi, nhưng quả bóng đụng góc cột trong, dội ngước lên không. Tôi tung người bắt bóng.
Quay lại mỉm cười với đồng đội, tôi thấy chúng đang trợn mắt sững sờ nhìn lại. Tôi bảo Michael:
- Ba-bảy.
Nó chớp mắt mãi mới cười nói được với đồng đội:
- Hay quá! Thừa thắng xông lên được rồi.
Tôi như vờn trên sân: chạy về bảo vệ khung thành, tiến lên ngăn chặn đối phương, liên tục
dâng lên tấn công, và tôi làm thêm bốn bàn nữa. Rồi chúng tôi dẫn trước 9-7. Phe kia tức tối
như điên. Chúng đề nghị tụi tôi tiếp sức cho chúng hai cầu thủ giỏi. Nhưng tình hình vẫn
không chuyển biến gì. Thật ra tôi có thể nhường hết người cho chúng, chỉ cần giữ lại một
thủ môn.
Danny, đội trưởng đối phương, luôn tìm cách chơi xấu tôi, nhưng tôi quá lanh lẹ. Thoăn
thoắt tránh những đòn gậy của nó, cứ nhằm cặp giò tôi phang tới. Không kiềm chế nổi nữa, nó bắt đầu thọc gậy vào mạn sườn, đạp lên chân và huých chỏ vào cánh tay tôi. Tôi đều
tránh được hết, nhưng nó làm tôi bực. Tôi rất ghét kiểu chơi bẩn như thế.
Chuyện bắt đầu xảy ra khi Danny chọc ngay đầu gậy vào… vùng nhạy cảm nhất của tôi. Đến ma-cà-rồng cũng chỉ có giới hạn thôi. Tôi nhăn nhó nhìn xuống chỗ đau.
Thằng Danny hô hố cười chạy đi với quả bóng. Tôi điên tiết, vừa rượt theo nó, vừa gạt
phăng những thằng lớ ngớ cản đường (chẳng cần biết phe ta hay phe địch). Tới sát sau lưng, tôi lia cây gậy ngay chân nó. Cú đánh đó của một người thường cũng rất nguy hiểm, huống hồ lại của một đứa có nửa máu ma-cà-rồng.
Một tiếng “rắc” vang lên. Thằng Danny rú to, rồi đổ nhào xuống.
Cuộc chơi ngừng lại. Chung quanh im lặng như tờ. Tiếng rú của Danny chứng tỏ nó đau đớn đến cực điểm.
Tôi thật tình ân hận, thẫn thờ nhìn cây gậy, hy vọng tiếng rắc gây ra là vì cây gậy bị gãy.
Nhưng không. Tôi đã làm gãy xương ống quyển của Danny. Cẳng chân nó cong vòng, và da rách toạc làm lộ ra lớp xương trắng hếu.
Michael cúi xuống nhìn, rồi nó ngước hai mắt thất thần lên ngó tôi. Nó nói như không còn thở nổi nữa:
- Mày làm nó gãy chân rồi.
- Tao đâu cố tình. Tại nó… tại nó…
Tôi chỉ vào “chim”, nói như mếu vì ân hận.
- Mày đập gãy chân nó rồi.
Michael gào lên, giật lùi, tránh xa tôi. Những đứa kia cũng giật lùi lảng ra xa.
Chúng nó SỢ tôi.
Nếu ở lại đó cho đến khi người lớn xuất hiện là tôi gặp rắc rối to. Thở dài, tôi quăng cây gậy, thẫn thờ bỏ đi. Không đứa nào dám ngăn tôi lại. Chúng quá khiếp hãi, quá ghê sợ Darren Shan… một con quái vật.
CHƯƠNG SÁU
Tôi trở về khách sạn thì trời đã tối và ông Crepsley đã thức dậy rồi. Tôi bảo ông, chúng tôi phải rời thị trấn này ngay, nhưng không cho ông biết lí do. Ông ta nhìn tôi, gật đầu, rồi lẳng lặng thu dọn hành trang.
Đêm đó chúng tôi ít chuyện trò. Tôi miên man suy nghĩ về việc trở thành ma-cà-rồng thật
xấu xa, tồi tệ biết bao. Ông Crepsley cảm thấy tôi đang có vấn đề rắc rối, nhưng không hỏi
han gì. Ông ta đã quen với tính nết thất thường của tôi và đây không phải là lần đầu tôi rầu
rĩ, cau có.
Chúng tôi tìm được chỗ qua đêm trong một nhà thờ bỏ hoang. Ông Crepsley nằm trên một băng ghế gỗ. Tôi trải đồ ngủ trên nền toàn rêu và cỏ.
Sáng sớm, tôi thức dậy, đi loanh quanh khám phá ngôi giáo đường và một nghĩa trang nhỏ
ngay kế bên. Những bia mộ đã dập vỡ cỏ dại tràn lan. Suốt mấy tiếng, tôi nhổ cỏ, lấy nước từ con suối gần đó lau rửa mộ đá. Tôi bận rộn làm việc để quên đi trận cầu hôm qua.
Một gia đình thỏ thập thò trước một cửa hang, dần dần chúng tiến ra, thò lõ những đôi mắt tròn xoe, tò mò nhìn, chẳng biết tôi đang làm gì. Tôi nằm xuống, giả bộ ngủ. Mấy chú thỏ con mon men tiến lại Đợi mấy cu cậu xáp lại gần sát, tôi bật ngồi dậy: “Hù”!
Các chú rối rít chạy. Một anh chàng lộn tùng phèo, ngã tọt vào hang.
Chơi với bầy thỏ làm tôi vui hẳn lên. Buổi chiều, tôi tìm được một cửa hàng để mua ít thịt và rau. Trở lại nhà thờ, tôi nhóm lửa, rồi lục lọi dưới gầm ghế ông Crepsley nằm, lấy một cái xoong nhỏ xíu bằng một tai nấm. Lật úp cái soong, tôi ấn mạnh. Cái xoong xoè ra, lớn bằng một cái xoong bình thường. Tôi đổ nước vào, đặt lên bếp lửa.
Tất cả xoong nồi, chén dĩa trong túi xách của ông Crepsley đều giống vậy. Ông ta đã mua
những vật dụng này của một người đàn bà tên Evanna. Chúng có thể thu nhỏ lại, rất tiện
khi đi xa.
Tôi nấu món ra-gu như ông Crepsley đã dạy. Theo ông, ai cũng phải biết nấu ăn. Vỏ và mấy miếng cà-rốt còn lại, tôi đem rải bên ngoài hang thỏ.
Ông Crepsley ngạc nhiên khi thức giấc, thấy đã sẵn sàng bữa ăn chiều - thật ra, với ông ta,
đây là bữa điểm tâm. Hít mùi thơm đang toả ra từ cái xoong đang sôi sùng sục, ông liếm môi
nói:
- Ta đến nghiện mùi này mất rồi.
Cười cười, ông vươn vai ngáp, vò chán chỏm tóc màu cam, lại thoa thoa cái thẹo chạy dài trên má trái. Đó là một thói quen của ông.
Nhiều lần tôi đã định hỏi, vì sao ông bị vết sẹo dài thòng như vậy, nhưng chưa dám. Gần cuối bữa ăn, ông Crepsley húng hắng ho, ngập ngừng khen:
- Ngon lắm.
- Cảm ơn ông.
- Ta không quen khéo miệng, rào trước đón sau, ta hỏi thẳng nhé: hôm qua đã xảy ra chuyện gì làm mi lo lắng vậy?
Lom lom nhìn đĩa thức ăn một lúc, rồi thình lình tôi thổ lộ hết với ông về trận cầu. Tôi nói đến không kịp thở nữa.
Ông ta chăm chú nghe, suy nghĩ mấy phút rồi mới nói:
- Đó là điều mi phải làm quen. Sự thật hiển nhiên là chúng ta khỏe hơn, nhanh hơn, cứng rắn hơn người bình thường. Nếu mi chơi đùa với họ, mi sẽ làm họ bị đau.
- Tôi không cố ý làm nó bị thương. Chỉ là một tai nạn thôi.
- Nghe này, Darren. Nếu mi còn tiếp xúc với con người, không có cách nào mi ngăn chặn
được những tai nạn như thế đâu. Dù mi cố gắng đến thế nào để được giống như một
người bình thường, mi vẫn không thể. Còn nhiều, rất nhiều tai nạn như thế chờ đợi mi.
Tôi buồn rầu hỏi:
- Nghĩa là tôi sẽ không thể có bạn được nữa, phải vậy không? Bây giờ tôi đã hiểu vì sao tôi luôn cảm thấy buồn. Tôi đã gần quen với ý nghĩ không bao giờ còn có thể trở về, gặp lại gia đình và bạn bè cũ nữa, nhưng cho đến hôm qua tôi mới nhận ra rằng, cũng chẳng bao giờ tôi có thể kết bạn mới được với ai. Ngoài ông ra, tôi không còn ai, đúng không?
- Không đúng. Mi vẫn có thể có bạn, nhưng phải thận trọng, vì nếu… Tôi gào lên:
- Ích lợi gì chứ? Vì chính ông đã bảo tôi sẽ gây tai nạn cho người ta. Kể cả một cái bắt tay
cũng là nguy hiểm. Móng tay tôi sẽ xé toạc tay người khác. Không, tôi không thể là hiểm hoạ cho ai được đâu. Hơn nữa, đó không phải là tình bạn thật sự?
- Tại sao không?
- Bạn bè thật sự không giấu giếm nhau điều gì. Làm sao tôi có thể nói với một con người, tôi là ma-cà-rồng? Tôi luôn phải che đậy, dối trá, đóng kịch. Tôi sẽ luôn phập phồng lo sợ người ta khám phá sự thật về mình. Và người bạn đó sẽ… căm ghét tôi.
- Đó là vấn đề mà tất cả ma-cà-rồng phải cam chịu.
- Nhưng tất cả những ma-cà-rồng đó không phải là một đứa trẻ như tôi. Ông bao nhiêu tuổi,
khi từ một con người thành ma-cà-rồng? Đối với người lớn, có thể bạn bè chẳng là gì. Ba tôi
đã bảo, lớn lên người ta không còn nhiều bạn nữa. Công việc, tiêu khiển cuốn người ta đi.
Nhưng với tôi, ngoài gia đình, bạn bè là quan trọng nhất. Ông, chính ông đã bứt gia đình khỏi
tôi, bằng những giọt máu tanh tưởi, ma quái. Bây giờ ông lại huỷ hoại cơ hội tôi có những
người bạn đúng nghĩa là bạn. Cám ơn ông nhiều lắm, cám ơn ông đã làm tôi trở thành một
con quái vật.
Tôi gần ứa nước mắt, nhưng không muốn khóc trước mặt ông ta. Vì thế tôi quơ miếng thịt cuối cùng, nhét vào miệng, giận dữ nhai ngấu nghiến.
Tôi nổi sùng làm một hơi như vậy mà ông Crepsley chỉ lặng lặng ngồi im. Không biết ông ta đang tức giận hay ân hận. Tôi chỉ sợ ông ta quay lại bảo: “Nếu mi nghĩ như thế thì ta sẽ ra đi, bỏ mi lại một mình”. Lúc đó tôi biết tính sao đây? Nhưng ông ta cất tiếng nói dịu dàng
làm tôi kinh ngạc.
- Ta rất tiếc. Đáng lẽ ta không nên truyền máu cho mi. Mi còn nhỏ quá. Tuổi thơ của ta xa xôi quá rồi, ta không còn nhớ những ngày đó ra sao. Ta đã quên, không nghĩ tới chuyện mi sẽ nhớ thương bạn bè đến ngần nào. Ta thật sai lầm. Sai lầm khủng khiếp. Ta…
Trông ông ta khổ sở đến nỗi không nói được hết lời. Tôi gần như cảm thấy tội nghiệp cho
ông ta. Nhưng nhớ lại những gì ông ta đã gây ra cho tôi, lòng tôi lại sôi sục căm hờn. Rồi tôi
thấy những giọt nước trong khoé mắt ông ta, hình như là nước mắt, một lần nữa, tôi lại
thấy tội nghiệp cho ông.
Sau cùng tôi bối rối nói:
- Than vãn bây giờ thì được ích gì. Chuyện gì làm, đã làm rồi. Chúng ta đâu còn cách gì thay đổi được nữa, phải không?
Ông ta thở dài:
- Đúng vậy. Nếu có thể, ta sẽ rút lại món quà khủng khiếp ta đã cho mi. Nhưng chẳng còn cách nào. Một khi con người đã bị đổi thay, không thể trở lại như xưa được nữa. Tuy nhiên… chắc không đến nỗi quá bi quan như mi nghĩ đâu. Có lẽ…
- Có lẽ sao?
- Ta sẽ kiếm bạn cho mi. Mi không phải quẩn quanh bên ta suốt ngày nữa.
- Tôi không hiểu. Chẳng phải chúng ta vừa nói, tôi sẽ không được an toàn khi chung đụng với loài người sao?
Ông Crepsley tủm tỉm cười nói:
- Ta không nói đến những người bình thường. Ta đang nói đến những con người có những quyền lực đặc biệt kìa. Những người… giống như chúng ta. Nhưng người mi có thể tâm sự cả những điều bí mật nhất.
Ông nghiêng người, nắm tay tôi, nhẹ nhàng nói:
- Darren, cháu nghĩ thế nào, nếu chúng ta trở lại Gánh Xiếc Quái Dị và làm một thành viên
tại đó?
CHƯƠNG BẢY
Càng bàn bạc, chúng tôi càng thích thú ý kiến trên của ông Crepsley. Ông ta bảo, những diễn viên trong đoàn sẽ biết tôi là ai và sẽ chấp nhận tôi như một người cùng hoàn cảnh với họ. Thành viên trong đoàn luôn thay đổi và luôn luôn có những người cỡ tuổi tôi. Tôi sẽ sinh hoạt chung với nhóm người trẻ tuổi này. Nhưng tôi cũng hỏi:
- Nếu khi đến đó, cháu không thích ở lại thì sao?
- Thì chúng ta đi. Ta thích ngao du cùng họ nhưng ta không mê xiếc đến điên cuồng đâu. Nếu cháu thích, chúng ta ở lại. Nếu không, chúng ta lại lên đường.
- Họ không bắt buộc cháu phải theo sát gót họ chứ?
- Ông Cao luôn ép mọi người phải làm một việc gì đó. Cháu sẽ giúp họ thu dọn ghế, đèn
đóm, bán quà lưu niệm hay nấu nướng. Sẽ bận rộn đấy, nhưng người ta sẽ không bắt cháu làm việc quá sức đâu. Đừng lo, chúng ta vẫn còn khối thời gian để ta dạy cháu học tập.
Thế là chúng tôi quyết định trở lại gánh xiếc. Dù sao ban đêm còn có một cái giường. Lưng tôi ê ẩm vì phải ngủ trên sàn đất quá rồi.
Tôi hỏi ông Crepsley làm cách nào ông có thể tìm ra nơi gánh xiếc đang trình diễn? Ông bảo sẽ xâm nhập vào tư tưởng ông Cao.
Nhớ lại những lời nói của Steve, tôi hỏi:
- Thần giao cách cảm, phải không?
- Tương tự như vậy. Thật ra chúng ta không thể trao đổi tư tưởng với nhau, nhưng ta có thể nắm bắt ý nghĩ ông ấy và tìm ra nơi ông ấy đang ở không khó khăn gì.
- Cháu có thể làm như vậy không?
- Không. Hầu hết ma-cà-rồng và một số con người có biệt tài thiên phú, mới có khả năng này. Nhưng những kẻ chỉ phân nửa ma-cà-rồng thì không thể.
Ông ta ngồi im lìm giữa nhà thờ chừng một phút, rồi mở mắt, đứng dậy nói:
- Tìm được rồi.
- Nhanh quá vậy?
- Ta đã nhiều lần tìm kiếm ông ta bằng cách này nên dễ như trở bàn tay thôi. Với ma-cà-
rồng, chuyện này chẳng khó khăn gì.
Trong khi thu dọn hành trang tôi nhìn quanh nhà thờ thắc mắc, chẳng biết nên hỏi hay không. Nhưng ông bỗng nói làm tôi giật mình.
- Nào, thắc mắc gì cứ hỏi đi.
- Sao ông biết cháu muốn hỏi? Ông phì cười:
- Không cần phải là ma-cà-rồng mới biết một đứa trẻ đang có nhiều thắc mắc. Chuyện gì
vậy?
- Ông có tin Thiên Chúa không?
Ông nhìn tôi thật lạ lùng, rồi chậm rãi gật đầu:
- Ta tin vào Thiên Chúa của ma-cà-rồng. Tôi nhăn mặt:
- Ma-cà-rồng cũng có thánh thần sao?
- Tất nhiên. Mỗi giống loài đều có những vị thánh thần riêng. Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa có thánh thần, thượng đế của họ. Ma-cà-rồng cũng thế thôi
- Còn thiên đàng?
- Chúng ta tin vào một cõi bồng lai ở phía trên các vì sao. Sau khi chết, nếu đã sống một đời tốt lành, linh hồn chúng ta sẽ bay khỏi thế gian, vượt qua những vì sao và dải ngân hà để tới một thế giới tuyệt vời là cõi bồng lai.
- Nếu không sống tốt thì sao?
- Thì sẽ ở lại đây. Trở thành những hồn ma vất vưởng trên thế gian này mãi mãi.
Nhủ thầm, làm thế quái nào mà một ma-cà-rồng có một cuộc sống tốt lành cho được, tôi
hỏi:
- Một ma-cà-rồng sống tốt như thế nào để được về bồng lai?
- Sống trong sạch. Nếu không cần thiết, không được sát hại sinh linh. Không được làm người khác đau đớn. Không được làm hư hỏng thế gian.
- Sống bằng máu người không là tội lỗi sao?
- Miễn là không được làm họ chết. Và đôi khi giết người cũng không có tội.
- Hả? Giết chóc là tội lỗi chứ?
- Con người có linh hồn. Khi chết, linh hồn lên thiên đàng hay cõi bồng lai. Nhưng một phần của họ vẫn có thể được giữ lại thế gian này. Nếu chỉ sử dụng một lượng máu nhỏ của họ, chúng ta không lấy mất một tí xíu nào tinh tuý của con người. Nếu sử dụng số lượng nhiều, chúng ta đã lưu giữ một phần của họ sống trong chúng ta. Kỷ niệm, cảm xúc của họ trở thành một phần của chính ta. Ta nhìn thế giới theo cách nhìn của họ, ta có thể nhớ lại cả những điều đã bị thiên hạ lãng quên.
- Là sao?
- Paris Skyle là một trong số những người bạn thân thiết nhất của ta. Ông ta già khú khụ rồi. Nhiều thế kỷ trước, ông là bạn của William Shakespeare.
- Ông Shakespeare viết kịch Romeo và Juliette?
- Đúng. Ông ta viết kịch và làm thơ. Nhưng hầu hết những vần thơ hay nhất của ông bị thất
lạc. Khi hấp hối, chính Shakespeare yêu cầu bạn ta hút máu. Để lưu lại những vần thơ ông
ta đã viết. Thế gian này sẽ nghèo nàn hơn biết bao nhiêu, nếu không có những vần thơ đó.
- Nhưng... các ông chỉ làm thế khi được những người hấp hối yêu cầu sao?
- Đúng. Giết một người mạnh khoẻ là tội ác. Nhưng đối với một người bạn sắp chết, lưu giữ kỷ niệm và kinh nghiệm của người đó, lại thật sự là việc thiện. Thôi, để dọc đường ta sẽ nói thêm. Bây giờ chúng ta phải khởi hành.
Tôi nhảy lên lưng ông Crepsley và ông bắt đầu thuật phi hành. Ông vẫn chưa cắt nghĩa cho tôi biết bằng cách nào ông có thể di chuyển như bay vậy. Thế giới chung quanh vùn vụt giật lùi sau chúng tôi. Ông Crepsley bảo, đối với ma-cà-rồng, phi hành chỉ là chuyện nhỏ.
Cảnh đồng quê bồng bềnh bên dưới chúng tôi thật tuyệt vời. Chúng tôi vượt qua núi đồi, đồng cỏ bao la nhanh hơn gió thổi, êm như ru, không ai có thể nhận ra, cứ như chúng tôi được bao quanh bằng một lớp bong bóng diệu kỳ.
Phi hành rất hao tổn công lực. Thấy ông Crepsley bắt đầu ráng sức, tôi mở nắp chai máu dự
trữ, đưa sát miệng cho ông. Vừa gạt mồ hôi trên mặt, vừa uống, ông gật đầu cảm ơn, tiếp
tục chạy.
Khi bầu trời hửng sáng, ông chạy chậm dần rồi ngừng lại hẳn. Tôi nhảy xuống khỏi lưng ông, dáo dác nhìn quanh. Chúng tôi đang đứng giữa một con đường quê. Chung quanh toàn ruộng đồng cây cối, tuyệt nhiên không thấy một ngôi nhà. Tôi hỏi:
- Gánh Xiếc Quái Dị đâu?
Đang quỳ gối, thở hồng hộc, ông Crepsley chỉ tay về phía trước:
- Còn vài cây số nữa.
- Ông bị đuối sức rồi, phải không?
- Ta còn có thể chạy tiếp tới đó. Nhưng không muốn họ thấy mặt ta đỏ ké như thế này.
- Tốt nhất là ông chỉ nên nghỉ một lát thôi, trời gần sáng bạch rồi. Ông Crepsley nổi quạu, quát lên:
- Mi đừng tài lanh. Ta biết chính xác giờ giấc sáng chiều hơn bất cứ con người bình thường nào. Chúng ta còn bốn mươi lăm phút nữa.
- Tuỳ ông.
- Đúng.
Ông ta cau có đứng dậy, chậm chạp bước. Đợi ông ta đi được một quãng, tôi mới chạy vượt lên trước.
- Ông già ơi, lẹ lên. Ông bị bỏ lại sau rồi đó. Nghe tôi trêu chọc ông chỉ càu nhàu:
- Cứ chạy đi, thử xem mi có mệt toé khói ra không?
Chỉ vài phút sau ông đã vượt lên ngang hàng tôi. Suốt mấy tháng nay, tôi chưa bao giờ vui vẻ như lúc này. Có một mục đích hay công việc gì nhắm tới mới làm con người bớt buồn chán được. Bạn đồng ý không?
Chúng tôi đi qua một nhóm người quần áo te tua, cắm trại bên đường. Vài người vẫy tay chào chúng tôi. Trông họ thật kỳ cục: tóc để dài thòng, quần áo lạ lùng, dây chuyền và hoa tai nặng trĩu.
Cờ xí, biểu ngữ đầy trong trại, nhưng tôi không đọc được chính xác những dòng chữ trên biểu ngữ, vì bước thấp bước cao chạy cho kịp ông Crepsley. Những gì loáng thoáng đọc được, hình như những người này đang phản đối việc mở một con đường mới.
Sau ngã rẽ thứ năm, chúng tôi đã nhìn thấy Gánh Xiếc Quái Dị trên bãi đất trống cạnh bờ sông. Không một tiếng động. Tôi nghĩ chắc họ còn đang ngủ. Nếu ngồi trên ô tô vùn vụt chạy quay, và không chủ tâm tìm kiếm những xe tải nhỏ và lều bạt, hẳn sẽ chẳng thể nào phát hiện ra được họ.
Đây là một nơi chẳng thích hợp cho một gánh xiếc chút nào. Chắc chỉ là một nơi tạm nghỉ giữa hai thị trấn.
Ông Crepsley tự tin len lỏi qua những xe tải. Ông biết chắc mình đang làm gì. Tôi lẳng lặng bước theo, nhớ lại hôm vào bắt trộm quý bà Octa, không tin ông ta tìm gặp được họ trong những xe này.
Ông Crepsley đến trước một xe dài màu bạc, gõ cửa. Ngay lập tức cánh cửa mở tung, một
thân hình cao lớn xuất hiện. Ông Cao. Trong ánh sáng nhợt nhạt của buổi sớm mai, hai mắt ông ta đen hơn bao giờ hết. Nếu chưa từng biết trước, tôi sẽ tưởng ông ta không có con ngươi, chỉ có hai hố mắt đen ngòm, trống rỗng.
Môi dường như bất động, tiếng nói trầm đục phát ra:
- Ồ, anh đấy à?
Vươn người cúi xuống nhìn tôi đang run lập cập, ông ta hỏi Crepsley:
- Lại đem theo cả chú bé này nữa?
Ông Crepsley hỏi:
- Chúng tôi vào được chứ?
- Tất nhiên. Không cho thì ma-cà-rồng vẫn biến hoá để vào được mà.
- Chính xác.
Nhìn hai người cười nói, tôi biết đó là câu nói họ vẫn đùa nhau. Trong xe đồ đạc rất sơ sài: vài cái kệ, một số poster và tờ bướm quảng cáo, cái mũ đỏ cao nghệu và đôi găng tay tôi đã từng nhìn thấy; cái bàn, mấy cái ghế và một cái giường xếp.
Dù đã ngồi xuống, ông ta trông vẫn cao phát sợ. Ông bảo:
- Tôi không ngờ anh tới sớm vậy, Larten.
- Chim quay về tổ không cần báo trước, phải không, Hibernius?
- Anh gặp rắc rối gì không?
- Không. Chỉ vì Darren rầu rĩ suốt. Tôi nghĩ nó sẽ vui hơn khi sống cùng đồng loại tại đây. Ông Cao nhìn tôi chăm chú bảo:
- Hiểu rồi. Kể từ khi ta gặp cháu lần sau cùng, cháu đã đi nhiều nơi lắm rồi, phải không Darren Shan?
- Cháu chỉ muốn được ở nhà như trước kia thôi.
- Vậy thì sao cháu lại bỏ nhà ra đi?
Tôi trừng trừng nhìn ông, lạnh lùng nói:
- Ông biết vì sao rồi mà.
Ông Cao chậm rãi gật đầu. Crepsley hỏi:
- Chúng tôi ở lại đây được chứ?
- Tất nhiên. Phải nói là chúng tôi rất mừng thấy anh trở lại. Đang thiếu người đây.
Alexander Xương-sườn, chị em sinh đôi Sive và Seersa, Gertha Răng thép đều đang nghỉ
phép. Cormac Chân Tay Nhựa Dẻo chưa đến kịp. Anh và quý bà Octa là sự cộng tác vô giá đối với đoàn chúng tôi rồi.
- Cám ơn anh.
Tôi liều hỏi:
- Thế còn cháu?
Ông Cao tủm tỉm cười:
- Mi ít quý giá hơn, nhưng vẫn được nồng hậu nghênh đón. Tôi hậm hực lặng im. Ông Crepsley hỏi:
- Chúng ta định trình diễn ở đâu vậy?
- Ngay tại đây.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Tại đây?
Ông Cao trợn mắt hỏi lại:
- Mi ngạc nhiên lắm sao?
- Cháu tưởng phải diễn trong phố, chứ giữa đồng không mông quạnh này ai đến xem?
- Chúng ta diễn ở bất cứ đâu, cũng vẫn có đông khán giả như thường. Đúng, thường thường chúng ta vẫn diễn ở nơi thị tứ, nhưng như ta đã nói, mùa này các diễn viên không đầy đủ. Người đi phép, người bận công chuyện.
Hai ông già trao đổi cái nhìn lạ lùng, bí mật. Tôi cảm thấy như họ đang giấu tôi điều gì. Ông Cao nói tiếp:
- Tuy vậy, chúng ta sẽ tạm nghỉ mấy ngày, không có buổi diễn nào hết. Ông Crepsley nói:
- Trên đường tới đây, tôi thấy một toán người cắm trại. Họ có gây khó dễ gì không?
- À, quân bảo vệ thiên nhiên đấy. Họ là chiến sĩ môi trường. Đi khắp nơi để ngăn chặn việc mở đường và xây cầu mới. Nhưng họ cũng sắp dọn đi nơi khác rồi.
Tôi hấp tấp hỏi:
- Chiến sĩ à? Có súng đạn, xe tăng không ạ?
Hai ông già rũ ra cười. Ông Crepsley cố nhịn cười, nói:
- Cu cậu hay hỏi dấm dớ vậy đó. Nhưng chẳng khờ chút nào đâu.
Mặt tôi đỏ bừng, nhưng tốt nhất là im lặng. Khi bị người lớn trêu chọc, bạn càng tức họ càng khoái, càng cười bạo hơn.
Ông Cao cắt nghĩa:
- Họ tự gọi mình là chiến sĩ. Nhưng không phải là lính đâu. Họ tự trói mình vào thân cây, rải đinh trên đường và đổ muối vào máy móc của những phương tiện chặt cây, phá rừng.
- Tại sao...
Ông Cao vừa định trả lời tôi, nhưng ông Crepsley đã xen vào:
- Chúng ta không còn nhiều thời gian đâu, mặt trời sắp lên rồi. Hibernius, cám ơn anh đã
đồng ý cho chúng tôi ở lại. Tôi tin là anh vẫn bảo quản cái quan tài của tôi đàng hoàng đấy
chứ?
- Tất nhiên.
- Đi xa là tôi nhớ nhất cái quan tài. Được ngả lưng lại vào đó thật sung sướng biết bao.
- Còn chú nhỏ này? Có cần phải đóng thêm một quan tài nữa không? Tôi hét toáng lên:
- Ôi! Xin can. Đừng bắt cháu nằm trong cái hòm thấy ghê ấy nữa.
Nhớ lại vụ bị chôn sống trong cái quan tài tối như hũ nút, tôi rùng cả mình. Ông Crepsley cười nói:
- Để Darren ở chung với nhóm diễn viên nào cỡ tuổi cu cậu là ổn rồi. Ông Cao nghĩ ngợi một lúc rồi hỏi:
- Evra được không?
Lão ma-cà-rồng cười toe thấy mà gớm:
- Hay, hay tuyệt. Darren ở chung với Evra là hết ý rồi. Tôi lo lắng hỏi:
- Evra là ai?
- Rồi mi sẽ biết. Bây giờ ta phải đi. Ở lại đây, ông Cao sẽ lo cho mi đàng hoàng. Tôi biết ông ta chỉ mong sớm chui vào chiếc quan tài yêu dấu.
Ông Cao hỏi:
- Chúng ta cũng đi chứ?
Tồi đành gật đầu, đi theo ông. Len lỏi qua những chiếc xe và lều bạt, ông Cao dắt tôi tới một lều cũ kỹ màu xám, lớn đủ cho khoảng năm sáu người. Chẳng biết ông ta lấy đâu ra chăn, gối đưa cho tôi (vì lúc ra khỏi xe, ông ta chẳng cầm theo gì):
- Gối mền đây. Cháu muốn ngủ đến chừng nào cũng được. Khi nào thức dậy ta sẽ đến tìm và cho cháy biết phải làm gì. Đến lúc đó, Evra sẽ giúp cháu.
Vén cửa lều, tôi nhìn vào, nhưng bên trong tối thui, chẳng thấy gì.
- Evra là ai?
Tôi quay lại hỏi, nhưng ông Cao đã êm ru biến mất từ lúc nào.
Thở dài, ôm chặt gối mền trước ngực, tôi đứng im làm quen cùng bóng tối. Lờ mờ một bóng người trên võng và tiếng thở đều đều. Tôi nhìn quanh tìm chỗ ngủ.
Lần mò được mấy bước, thình lình một vật trườn tới tôi trong bóng tối. Tôi đứng sững lại, banh mắt cố nhìn, khe khẽ lên tiếng:
- Chào. Evra hả? Darren đây. Mình mới...
Tiếng trườn mình trên đất đã tới sát tôi. Trong khi tôi đứng như trời trồng, cái vật mềm mềm trơn trơn đó cuốn quanh chân tôi. Ôi, tôi biết đó là vật gì rồi, nhưng không dám cúi xuống nhìn, cho đến khi nó cuốn dần lên nửa thân mình tôi. Lấy hết can đảm, tôi đảo mắt xuống: một con rắn to, dài, đang rít lên như huýt sáo!
CHƯƠNG TÁM
Tôi sợ đến cứng người, đứng chết ngay đơ suốt nửa tiếng, trân trân nhìn vào đôi mắt lạnh lùng phát khiếp của con rắn, chờ nó tấn công.
Cuối cùng, khi ánh nắng mặt trời rọi qua lớp vải lều, người nằm trên võng ngồi dậy vươn vai ngáp, rồi nhìn quanh.
Chính là cậu bé rắn. Cậu ta giật mình khi thấy tôi, vội kéo võng che thân. Nhưng phát hiện ra tôi đang bị con rắn cuốn nửa thân mình, cậu ta có vẻ bình tĩnh lại, lên tiếng hỏi:
- Mi là ai? Vào đây làm gì?
- Tôi chỉ nhè nhẹ lắc đầu, không dám trả lời, sợ ngực phập phồng sẽ bị con rắn mổ cho một
phát.
- Trả lời đi, nếu không ta bảo con rắn móc mắt mi ra ngay lập tức.
- Mình... là... Da... Darren Sh-Sh- Shan. Ô... ô... ông Cao bảo mình ở chung lều với cậu.
- Darren Shan? Cậu là đệ tử ông Crepsley phải không?
- Ừa.
Toét miệng cười, cậu ta hỏi:
- Ông ấy có biết ông Cao để cậu ở chung lều với mình không? Tôi gật. Hắn hô hố cười:
- Ha ha, tớ chưa bao giờ gặp một ma-cà-rồng nào ngẩn ngơ, cóc biết đùa như cậu.
Nhảy xuống khỏi võng, hắn nắm đầu con rắn, gỡ dần khỏi thân mình tôi, nói:
- Yên tâm đi. Có gì nguy hiểm đâu. Nó đang ngủ mà. Đáng lẽ cậu cứ bình tĩnh gỡ nó ra cũng
được.
- Hả? Nó ngủ?
- Ngủ mê. Mộng du ấy mà.
Quả thật con rắn chẳng phản ứng gì, khi bị gỡ khỏi người tôi. Cười gượng, tôi bảo:
- Cũng may nó không mơ thấy đang ăn đấy.
Hắn vuốt ve đầu con vật cưng bảo:
- Thức giấc, nó cũng không ăn thịt cậu đâu. Cô ả mới xơi nguyên một con dê ngày hôm qua. Bự cỡ này rồi, nàng không cần ăn mỗi ngày đâu.
Đặt con rắn vào một góc, hắn mở cửa lều bước ra. Tôi theo bén gót, chẳng muốn ở một mình với ả bò sát khổng lồ kia chút nào.
Ra ngoài, tôi nhìn kỹ lại cậu bé rắn: lớn hơn tôi chừng mấy tuổi, tóc lưa thưa màu vàng
chanh, mắt ti hí, ngón chân ngón tay có mang;toàn thân phủ một lớp vẩy, xanh dương, xanh lục, vàng, vàng kim. Hắn chỉ mặc có mỗi một cái quần xà lỏn.
Hắn đưa tay ra nói:
- Tên mình là Evra Von.
Chúng tôi bắt tay nhau. Bàn tay hắn trơn, nhưng khô ráo. Khi tôi rút tay về, mấy cái vẩy bong ra và dính lên tay tôi. Chúng giống như lớp da khô nhuộm màu. Tôi hỏi:
- Evra Von gì nữa?
- Chỉ đơn giản thế thôi. Cậu đói không?
- Đói.
Tôi theo Evra, đi tìm thức ăn.
Đêm qua không phải diễn, hầu hết những diễn viên và nhân viên đều đi ngủ sớm, nên sáng nay họ cũng dậy sớm hơn thường lệ. Sinh hoạt trong trại nhộn nhịp hẳn lên.
Tôi không ngờ họ đông đến thế. Hàng mấy chục con người cười nói, đi lại, nấu nướng, giặt giũ. Tôi hỏi Evra:
- Những người này là ai?
- Cột sống của đoàn đấy. Lái xe, dựng lều, giặt giũ, nấu ăn, sắp đặt và thu dọn trang phục trước và sau khi diễn. Bận rộn lắm.
- Họ là người bình thường?
- Đa số. Họ là bà con của những diễn viên. Một số là bạn bè của ông Cao. Có người tới xem, rồi xin ở lại.
- Chỉ thích là có thể xin theo đoàn được sao?
- Nếu ông Cao ưng ngoại hình của họ. Lúc nào trong đoàn chẳng trống chỗ.
Tôi ngừng theo Evra trước một bếp lửa lớn. Hans Tay-thần (người có thể đi và chạy bằng
hai bàn tay nhanh hơn nhà vô địch điền kinh thế giới) đang ngồi trên một khúc cây, trong khi
Truska (cô gái có khả năng cho râu mọc theo ý muốn) đang ngoáy nồi sốt bằng đôi đũa gỗ.
Nhiều người nằm, ngồi rải rác xung quanh. Hans chào Evra rồi nghi hoặc nhìn tôi hỏi:
- Anh bạn trẻ này là ai?
- Darren Shan đấy.
- Chính là Darren Shan đây à?
Hans trợn mắt hỏi lại. Evra cười tươi nói:
- Còn ai khác nữa.
Tôi thắc mắc:
- Ông bảo “Chính là Darren Shan” là có nghĩa gì vậy? Hans nói ngay:
- Vì cậu nổi tiếng trong đám tụi tui lắm đó.
- Vì sao? Vì tôi là một... ma-cà-rồng nửa mùa? Hans cười rinh rích:
- Một ma-cà-rồng nửa mùa thì có gì là lạ. Nhưng một ma-cà-rồng nửa mùa nhỏ xíu như cậu mới là vấn đề.
Tôi chưa từng thấy hay nghe nói đến một đứa trẻ nào, cỡ tuổi cậu lại sống ngang hàng cùng một xác chết biết đi như thế. Nè, các Tướng quân ma-cà-rồng đã kiểm tra cậu chưa?
- Tướng quân ma-cà-rồng là ai?
- Là...
- Hans!
Một bà đang giặt quần áo gắt lên:
- Hans. Tưởng Larten khoái chuyện hóng hớt của anh lắm hả?
- Xin lỗi. Tái sáng nay dậy sớm, sảng khoái quá đâm nói nhảm.
Định hỏi thêm về Tướng quân ma-cà-rồng nhưng thấy mặt ông xụ một đống, tôi không
dám.
Truska chia đều mỗi người một viên xúc xích. Đến lượt tôi, cô ta cười líu lo một thứ tiếng lạ lùng. Thấy tôi ngẩn tò te, Evra cười lớn:
- Cô ấy hỏi cậu thích ăn xúc xích hay chỉ ăn chay toàn rau thôi?
- Cậu nói được thứ tiếng của cô ấy à?
- Đang học. Ngôn ngữ này khó thấy mồ, nhưng cả trại chỉ mình tớ hiểu cô ta nói gì thôi.
- Đó là ngôn ngữ của nước nào vậy?
- Cô ta có nói đâu mà biết.
Kỳ thật, chắc hắn không muốn cho tôi biết đó thôi. Tôi lẳng lặng cắn một miếng xúc xích, nhưng vội phun ra ngay: nóng đến cháy lưỡi. Evra cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi ca nước. Tôi ngậm nước cho hết nóng, rồi thổi phù phù trước khi ăn tiếp.
Chúng tôi ngồi ăn và chuyện trò với Hans và Truska dưới nắng sớm. Evra giới thiệu tôi với tất cả mọi người trong nhóm. Có quá nhiều tên là lạ phải ghi nhớ, tôi chỉ biết mỉm cười, bắt tay và cố nhớ lấy từng khuôn mặt.
Ông Cao chẳng biết từ đâu và từ bao giờ xuất hiện sau lưng Evra, hơ tay sưởi trên bếp lửa. Ông hỏi tôi:
- Dậy sớm vậy, cậu Shan?
- Cháu không ngủ được.
- Không ảnh hưởng gì đến khả năng làm việc chứ?
- Cháu khoẻ mà, không sao đâu.
- Chắc chứ?
- Dạ, chắc.
Lấy ra một cuốn sổ lớn, lật vài trang, ông nói:
- Tốt. Ta chỉ muốn nghe vậy thôi. Nào để xem cháu có thể làm gì? Nấu ăn tốt chứ?
- Ông Crepsley đã dạy cháu nấu món ra-gu.
- Đã bao giờ nấu ăn cho một tập thể ba mươi hay bốn mươi người chưa?
- Chưa.
- Thế thì phải học. May vá được không?
- Dạ không.
- Giặt giũ?
- Bằng tay ạ.
- Phải.
- Chưa.
- Hừ.
Ông lật thêm vài trang, bảo:
- Thôi được. Trong khi tìm một việc hợp với khả năng của cháu, tạm thời cháu làm việc cùng Evra. Được chứ?
- Cháu thích lắm.
Ông hỏi cậu bé rắn:
- Sao? Đồng ý không, Evra?
- Đồng ý.
- Tốt. Vậy là ổn thoả rồi nhé. Evra tạm thời quản lý cháu. Hãy làm những gì nó bảo. Khi
đồng nghiệp của cháu thức dậy (ông ta ám chỉ ma-cà-rồng Crepsley), cháu được tự do cả
đêm.
Tôi chờ ông ta biến mất trong chớp mắt, nhưng ông ta đủng đỉnh bước đi, vui vẻ huýt sáo, tận hưởng ánh nắng mặt trời ấm áp.
Evra choàng cánh tay toàn vẩy lên vai tôi, nói:
- A, Darren, bây giờ mình và cậu là cộng sự của nhau rồi đấy. Cậu thấy sao?
- Vui.
- Tuyệt lắm. Vậy bắt tay vào việc thôi.
- Trước hết chúng ta làm gì bây giờ.
- Việc thường ngày mỗi buổi sáng. Vắt nọc độc từ nang con rắn của tớ. Tôi đứng sững lại:
- Hả! Nguy hiểm không?
- Trừ khi ả nổi hứng cắn cậu trước khi xong việc. Evra cười ha hả, rồi đẩy tôi về phía lều.
CHƯƠNG CHÍN
Tôi thở phào khi Evra tự vắt nọc độc, rồi chúng tôi kéo con rắn ra bãi cỏ, xách nước, lau chùi cho nó bằng một miếng bọt biển mềm.
Sau đó chúng tôi cho Người-sói ăn. Chuồng nhốt Người-sói gần cuối trại. Vừa thấy chúng tôi nó đã tru lên, hung dữ y như đêm đầu tiên tôi và Steve thấy nó tại buổi biểu diễn. Nó rung song chuồng ầm ầm, bổ nhào về phía chúng tôi.
Ném một miếng thịt sống vào chuồng, nhìn nó chộp và đưa lên mồm nhai ngấu nghiến, tôi hỏi Evra:
- Sao nó hung hăng, dữ tợn quá vậy?
- Vì đây là Người-sói thật, không phải là một con người bình thường đầy lông lá. Nó là một sinh vật nửa người, nửa sói.
- Giam ***, xiềng xích như thế này có quá tàn nhẫn không?
- Nếu không, nó sẽ làm náo loạn lên, cắn giết tất cả mọi người. Hai dòng máu pha trộn giữa người và sói làm nó điên loạn. Nếu được tự do, nó cắn giết suốt, dù không đói khát.
- Không có cách gì chữa trị sao?
- Không. Vì đâu phải là một căn bệnh. Nó sinh ra là như thế rồi. Cảm thấy xót xa cho Người-sói quá, tôi hỏi:
- Chuyện xảy ra như thế nào?
Evra lặng lẽ nhìn tôi rồi hỏi:
- Cậu thật sự muốn biết vì sao?
Nhìn con thú xé thịt bằng răng, nhẹ nhàng như con người cắn miếng bánh, tôi lắc đầu:
- Thôi, có lẽ mình không nên biết thì hơn.
Sau đó chúng tôi còn rất nhiều việc phải làm: gọt khoai tây cho bữa tối, vá sửa bánh xe, một tiếng đồng hồ sơn phết lại mui xe, dắt chó đi dạo... Evra bảo, ngày nào cũng vậy, loanh
quanh khắp trại, cần gì làm nấy.
Buổi chiều, chúng tôi thu nhặt vỏ hộp, ly chén vỡ, để đem đến cho Rhamus Hai-bụng (người có thể ăn tuốt tất cả mọi thứ trên đời). Tôi muốn ở lại xem ông ta ăn. Nhưng Evra kéo đi, hắn bảo, khi không trình diễn, ông ta không thích ai dòm ngó trong khi ăn.
Những khi rảnh rỗi, chúng tôi kể cho nhau nghe về chuyện của mình: từ đâu tới, sinh ra và lớn lên tại đâu.
Evra là con của một cặp vợ chồng bình thường. Họ khiếp đảm khi lần đầu nhìn thấy hắn. Bị bỏ rơi tại một viện mồ côi, cho đến năm lên bốn, hắn được một tay chủ gánh xiếc độc ác bỏ tiền ra mua.
Evra âm thầm nói:
- Thời gian đó khổ lắm. Lão ta đánh đập mình, đối xử với mình như một con rắn thật sự. Nhốt mình trong một cái lồng thuỷ tinh, lão thu tiền để mọi người vào xem và chế giễu, chọc phá mình.
Suốt bảy năm dài khốn khổ, Evra phải theo gánh xiếc làm nhục đến nỗi hắn chỉ có thể cảm thấy là một quái nhận hoàn toàn vô dụng.
Cho đến khi Evra được ông Cao giải thoát.
- Thình lình, một hôm, ông Cao xuất hiện trong đêm tối. Đứng bên lồng kính, ông ta cứ lặng lẽ nhìn mình. Cả mình và ông ta không nói một lời nào. Rồi lão chủ bước tới. Lão không biết ông Cao là ai, chỉ nghĩ đó là một người giàu sụ, muốn mua mình. Lão ra giá rồi đứng chờ. Trong mấy phút, ông Cao vẫn lặng thinh. Bất ngờ, tay trái ông vung lên, nắm ngay cổ lão chủ, chỉ một cái vặn, lão xong đời. Ông Cao mở cửa lồng, bảo: “Đi nào, Evra”. Mình nghĩ ông Cao có thể đọc được ý nghĩ của người khác, nên mới biết tên mình.
Evra ngồi lặng lẽ, hai mắt như nhìn về một nơi rất xa xôi. Hắn chợt hỏi:
- Cậu có muốn xem một trò đặc biệt không?
- Muốn mê đi chứ.
Hắn quay mặt về phía tôi, thè lưỡi qua môi, lên tận mũi. Tôi kinh ngạc, thích thú reo lên:
- Wow! Đã quá!
Evra khoái chí cười.
- Tớ có cái lưỡi dài nhất thế giới. Nếu mũi tớ đủ lớn, tớ có thể luồn lưỡi qua mũi, xuyên qua cổ họng, rồi thè ra ngoài môi... bình thường.
- Hắn lại thè lưỡi, lần lượt ngoáy hai lỗ mũi. Tôi phì cười.
- Tớ chưa thấy trò nào tởm như trò này.
- Mình cá là cậu cũng khoái làm được như thế đấy.
- Quên đi. Làm được tớ cũng cóc làm, dơ thấy mồ. Lưỡi cậu toàn nước mũi. Í ẹ!
- Mình không có nước mũi.
- Cái gì?
- Thật mà. Mũi mình khác cậu. Khô rang, không dính bụi, không có lông mũi. Lỗ mũi là phần sạch sẽ nhất cơ thể mình.
- Nó có mùi vị gì?
- Liếm bụng con rắn của mình cậu sẽ biết ngay. Tôi cười sằng sặc, nhăn mặt bảo:
- Thua. Mình chịu thua. Hổng dám đâu.
Sau đó ông Crepsley hỏi tôi, cả ngày đã làm những gì, tôi bảo: “Kết bạn”.
CHƯƠNG MƯỜI
Tôi đã ở trong gánh xiếc được hai ngày hai đêm. Ban ngày tôi phụ việc với Evra, ban đêm học pháp thuật ma-cà-rồng với Crepsley.
Tình bạn giữa tôi và Evra càng lúc càng gắn bó. Hắn lớn hơn tôi - nhưng lại nhút nhát - chắc vì những bất hạnh trong quá khứ - vì vậy chúng tôi rất hợp nhau.
Đến ngày thứ ba, nhìn những xe cộ, lều bạt, tôi cảm thấy như khung cảnh này đã là một phần cuộc sống của tôi từ nhiều năm rồi.
Tôi bắt đầu phải chịu đựng ảnh hưởng của việc không chịu dùng chất “thuỷ ngân đỏ” của con người: không còn khoẻ mạnh như trước, di chuyển chậm chạp hơn, mắt bị mờ, mũi và tai cũng không còn thính nữa. Tất nhiên, so với con người bình thường trước kia, tôi khoẻ hơn nhiều. Nhưng rõ ràng sức lực tôi hao mòn dần từng ngày.
Tôi không cần, thà mất sức khoẻ còn hơn phải sử dụng đến máu người.
Chiều hôm đó, khi đang ngồi nghỉ với Evra bên rào trại, chúng tôi phát hiện một người lấp ló trong bụi rậm. Tôi hỏi:
- Ai vậy hả?
- Một thằng nhóc trong làng gần đây. Mình thấy nó lảng vảng quanh trại mấy lần rồi.
Tôi nhìn thằng nhóc đang cố núp mình, nhưng với thị giác dù đã hơi yếu của một ma-cà-
rồng, tôi thấy nó rõ như nhìn một con voi. Muốn biết anh chàng đang giở trò gì, tôi bảo Evra:
- Ê, quậy chút cho vui.
- Cậu định làm gì?
Tôi ghé sát tai hắn thì thầm. Evra cười cười gật đầu, rồi giả bộ vươn vai, đứng dậy, ngáp dài, nói lớn:
- Mình đi nghỉ đây, lát gặp lại cậu.
- Ok. Lát gặp lại, Evra.
Đợi Evra đi khuất, tôi cũng làm bộ đứng lên đi về lều. Qua khỏi tầm nhìn của thằng nhóc, tôi đi vòng sau mấy cái lều về bên trái chừng một trăm thước, rồi bò lại bụi cây cu cậu đang núp. Mắt nó vẫn thô lố nhìn lom lom vào trại. Phía bên kia, tôi thấy Evra tiến lại gần chú nhóc hơn cả tôi. Hắn đưa ngón cái và ngón trỏ lên thành hình chữ O. Dấu hiệu Ok.
- Ai đó?
Tôi thở phì phì như một con khỉ đột đang giận dữ. Thằng nhóc vừa lết giật lùi vừa nói:
- Đừng bầy trò hù à nha. Ông cóc sợ đâu. Evra thét lên:
- E he he! E he he!
Tôi rung cành cây rột roạt, ném một viên đá về cái đầu thằng nhóc đang đảo quanh như đầu một con rối. Cu cậu không biết thoát thân đường nào.
Nó gào lên:
- Ê, tớ cóc biết các cậu là ai, nhưng...
Evra đã lẻn đến sau lưng thằng nhỏ, le lưỡi liếm quanh cổ nó và rít lên như rắn.
Chú nhóc chết điếng, rú lên, ù té chạy. Tôi và Evra vừa cười “hù hù”, rượt theo. Chú nhóc nhảy tọt vào một bụi gai, ngồi thu lu, ngoác mồm kêu cứu.
Chúng tôi đang định kéo nó ra, nhưng nó bỗng vạch một con đường, thoăn thoắt biến vào
đám cỏ cao ngút đầu. Chỉ một thoáng, chúng tôi không thấy tăm hơi thằng nhóc đâu nữa. Tôi
hỏi:
- Nó biến đâu rồi?
- Bó tay. Chẳng thấy dấu vết nó đâu.
- Nó không sao chứ?
- Không biết. Có thể nó ngã xuống cái hố nào rồi. Tôi gọi lớn:
- Nhóc! Mày không sao chứ? Đừng sợ. Tụi tớ chỉ giỡn thôi mà. Chúng tớ không...
Phía sau chúng tôi có tiếng sột soạt, rồi một bàn tay xô mạnh tôi lăn đùng trên bãi cỏ. Evra cũng bị ngã theo tôi. Ngồi vọt dậy, hết hồn vì sau lưng có tiếng cười sằng sặc, hai chúng tôi từ từ quay lại: thằng nhóc con đang cúi gập mình xuống mà cười.
Nó nhảy nhót xung quanh chúng tôi, tưng tửng hát:
- Lêu lêu mắc cỡ! Lêu lêu mắc cỡ. Tớ thấy các cậu từ đầu. Giả bộ sợ để phục kích đó thôi. Bị mắc lừa rồi. Ha ha ha! Hi hi hi!
Bị quê thật, nhưng khi nhìn nhau, tôi và Evra cũng không nín được cười. Thằng nhóc đã lừa tôi vào đám cỏ may. Từ đầu đến chân tụi tôi dính đầy cỏ may. Tôi bảo Evra:
- Trông cậu giống cái cây biết đi quá.
- Ha ha, cậu thì hơn gì tớ.
Thằng nhóc nham nhở cười, phán tỉnh bơ:
- Cả hai cậu trông đều ngố.
Chúng tôi trừng mắt nhìn nó. Nó không cười nữa, nhưng vẫn lầu bầu thêm:
-Thật mà.
Tôi rít lên:
- Mày thấy chuyện này ngộ lắm hả?
Nó gật. Tôi lừ lừ tiến lại, hầm hầm nói:
- Vậy thì tao sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ.
Tới sát nó, tôi không nhịn được nữa, phá lên cười. Chú nhóc khoái quá, cười hớn hở, đưa tay
nói:
- Mình là Sam Grest.
- Chào, Sam Grest.
Tôi bắt tay nó, nhủ thầm: “Đây là người bạn số hai”.
Và nó đã trở thành bạn của tôi thật. Nhưng khi Gánh Xiếc Quái Dị dọn đi, tôi đã thành thật mong ước: phải chi tôi đừng bao giờ gặp nó, thậm chí đừng bao giờ nghe đến tên nó.
CHƯƠNG MƯỜI MỘT
Sam sống cách nơi gánh xiếc cắm trại khoảng một cây số. Nó ở cùng cha mẹ, hai em trai,
một em gái, ba con chó, một con mèo, hai con vẹt, một con rùa và một cái hồ đầy cá nhiệt
đới.
Nó cười rũ rượi, hồn nhiên nói thêm:
- Cứ như trên thuyền của ông Nô-ê vậy. Tớ tìm cách chuồn khỏi nhà càng lâu càng tốt. Ba má mình cóc cần đâu. Ông bà bảo con nít cần phải được tự do mới phát triển hết cá tính. Miễn là tớ còn về nhà ngủ là hai cụ khoái rồi. Thỉnh thoảng tớ bỏ học, ba má cũng chẳng quan tâm. Vì ông bà bảo trường học là một hệ thống giáo dục áp đặt, tàn-bạo; làm bẻ gãy ý chí và dập tắt sáng tạo của chúng ta.
Nó nói như ông cụ non. Nếu nghe nó nói chuyện, bạn không thể ngờ được là nó nhỏ tuổi hơn tôi.
Xoay xoay một củ hành muối quanh miệng (Sam mê hành muối lắm, lúc nào nó cũng tha theo một củ). Nó hỏi:
- Vậy là hai cậu ở trong gánh xiếc?
Evra nằm ườn trên cỏ, tôi ngồi trên một cành cây thấp. Sam leo trèo phía trên tôi. Chúng tôi chưa kịp trả lời, nó lại hỏi:
- Diễn trò gì vậy? Chẳng thấy hình vẽ trên xe gì hết? Lúc đầu, tớ cứ tưởng đây là một đoàn du lịch. Sau khi quan sát tớ mới chắc là một đoàn biểu diễn trò gì đó.
Evra véo von cất tiếng:
- Chúng tôi là bậc thầy của những trò kỳ lạ, đầy biến ảo, siêu thực đến không ngờ.
Hắn làm Sam mê mẩn. Ước gì tôi cũng nói được như Evra. Tôi là đứa ăn nói không được trôi chảy lắm.
Sam sôi nổi hỏi:
- Xiếc ảo thuật chứ gì?
Tôi láu táu nói ngay:
- Ảo thuật là chuyện nhỏ. Đây là Gánh Xiếc Quái Dị.
Nó há hốc miệng làm rớt cả miếng hành, lắp bắp hỏi:
- Người... người hai đầu và những thứ giống... giống như thế hả?
- Đại khái vậy. Nhưng những diễn viên của chúng tớ tuyệt vời lắm, không chỉ là những người trông khác thường đâu.
Nó liếc cậu bé rắn, gật gù:
- Lúc đầu tớ tưởng cậu ấy bị bệnh ngoài da, không ngờ còn có những người như thế không đoàn nữa. Những người kia trông như thế nào?
- Cậu hỏi những diễn viên hả? Người đàn bà có râu... Evra thêm:
- Người-sói.
Tôi tiếp:
- Người Hai-bụng.
Lần lượt chúng tôi đưa ra hết danh sách diễn viên. Thậm chí Evra nói đến tên cả những diễn viên tôi chưa từng thấy bao giờ. Họ đến và đi, tuỳ theo nơi trình diễn.
Thằng Sam đờ đẫn cả người. Lần đầu tiên, từ khi gặp, nó im thin thít, miệng há hốc, mắt thao láo, lắc đầu lia lịa như thể không tin nổi những gì đang nghe. Chúng tôi chấm dứt rồi, nó vẫn ngồi im một lúc mới thì thầm:
- Thật khó tin. Các cậu là những đứa trẻ may mắn nhất hành tinh rồi đấy. Sống cùng một gánh xiếc quái dị thật sự, du lịch khắp thế giới, trực tiếp tham gia những điều bí ẩn tuyệt vời. Ước gì mình đổi chỗ được với các cậu.
Tôi cười thầm, nghĩ: Chẳng đời nào nó đổi chỗ với tôi, nếu nó biết toàn bộ sự thật. Nhưng Sam chợt nghĩ ra một sáng kiến, nó phấn khởi nói:
- Nè, chắc chắn mình không thể nào đổi chỗ với các cậu được, nhưng mình lanh lợi, thông
minh, chịu khó làm việc, rất có trách nhiệm. Mình làm phụ tá cho các cậu được mà. Giúp
mình đi.
Tôi và Evra ngó nhau cười. Evra bảo:
- Không được đâu, Sam. Nếu cậu lớn hơn, hay cha mẹ cậu gửi gắm thì lại khác.
- Ba má mình không quan tâm đâu. Ông bà còn mừng cho mình nữa. Ba má mình vẫn bảo, du lịch làm tâm hồn rộng mở, vì được đi nhiều, thấy nhiều mà.
Evra lắc đầu:
- Mình rất tiếc. Có thể đến khi cậu lớn hơn thì được.
Sam tức giận, bứt lá, rung cành làm lá ào ào đổ xuống tôi và Evra. Nó tuôn ra một tràng:
- Thật bất công. Ai cũng chỉ có một câu “chờ mày lớn đã”. Thế giới sẽ ra sao nếu Alexander
Đại Đế cũng phải chờ đến khi khôn lớn? Còn Jean d’Arc nữa, nếu bà ta cũng chờ đến khi
khôn lớn thì đế quốc Anh nuốt chửng nước Pháp rồi. Ai quyết định cho một người phải đủ
lớn mới được tự do hành động chứ? Đó là chuyện cá nhân của một con người mà.
Nó tiếp tục phàn nàn về người lớn và “hệ thống hủ bại”, về thời gian trưởng thành đủ để làm một cuộc cách mạng của trẻ em. Nó làm tôi tưởng mình đang nghe một nhà chính trị điên khùng trên tivi. Nó gào lên:
- Nếu một đứa trẻ muốn mở một lò bánh ngọt, hãy để nó làm. Nếu nó muốn làm nài ngựa, hãy đồng ý đi. Nếu nó muốn làm một nhà thám hiểm, tại sao không đồng ý. Chúng ta là nô lệ trong một thời đại văn minh. Chúng ta...
Evra bỗng hỏi:
- Sam, cậu muốn đến xem con rắn của mình không?
- Tớ hả? Tưởng chẳng bao giờ cậu mời tớ chứ.
Nó toét miệng cười ngay. Tụt xuống khỏi cây, le te chạy trước, chẳng còn nhớ gì đến bài
diễn văn hùng hồn. Evra và tôi lững thững theo sau, vui vẻ cười, cảm thấy hai đứa chúng tôi “già và khôn” hơn chú nhóc nhiều.
Evra cười nói. Sam liếc về phía chuồng Người-sói, rồi vội bước đi. Trông nó buồn rười rượi, tôi gọi với theo:
- Sam, mai cậu làm gì?
- Không làm gì hết?
- Chiều mai đến chơi với tụi tớ, được không? Nó ngó lại, ngập ngừng nói:
- Mình không phải đánh răng, cho ăn...?
- Không đâu.
Evra cười nói. Chúng tôi ngoắc tay chào nó. Tôi bảo Evra:
- Thằng nhóc được quá chứ?
- Được. Phải chi nó đừng ra bộ cụ non và bớt thỏ đế một chút. Tuy nhiên cu cậu cũng được.
- Cậu nghĩ nó vào đoàn được không?
- Chẳng khác nào một chú chuột nhắt lọt vào giữa bầy mèo.
- Hả? Cậu định nói gì?
- Cuộc sống này không phải ai cũng chịu nổi đâu. Xa gia đình mấy tuần, phải cọ cầu tiêu, nấu ăn cho mấy chục người... Nó la làng lên mà bỏ chạy.
- Chúng mình sống được đó thôi.
- Chúng mình khác. Chúng mình không giống mọi người. Mọi người có tổ ấm để quay về. Chúng mình chỉ có nơi này...
Hắn ngừng lại, chau mày, nhìn xa xa phía sau tôi. Tôi vội quay lại. Suốt mấy giây, tôi chẳng
thấy gì, nhưng rồi qua những tán cây về hướng đông, tôi thấy những tia sáng nhấp nháy.
- Ai vậy nhỉ?
- Mình cũng không biết?
Mấy phút sau, ánh đuốc lại gần hơn chúng tôi đã có thể nhìn thấy bóng khoảng sáu, bảy người. Rồi, khi họ qua khỏi lùm cây, tôi đã nhận ra họ là ai, toàn thân tôi nổi da gà.
Đó là những người bé nhỏ, trùm kín mít từ đầu đến chân bằng môt màu xanh, mà tôi và
Steve đã thấy đêm đầu tiên xem xiếc. Họ phụ giúp diễn viên trên sân khấu và bán kẹo bánh, đồ lưu niệm. Mấy tháng qua, hầu như tôi đã quên bẵng mấy người tí hon này.
Họ ra khỏi rừng, từng cặp một. Tôi đếm được mười hai người. Người thứ mười ba đi sau cùng cầm cây đuốc.
Tôi thì thầm với Evra:
- Họ từ đâu ra vậy?
- Mình không biết. Họ đi khỏi đoàn mấy tuần trước. Chẳng ai biết họ đi đâu. Lúc nào họ cũng sát cánh bên nhau.
- Họ là ai?
- Là...
Bỗng Evra ngừng bặt, mắt mở to khiếp đảm.
Chính người thứ mười ba, cao lớn nhất - lúc này đã thấy rõ mặt - làm cho Evra khiếp đảm.
Đoàn người khăn áo xanh lặng lẽ đi qua. Khi người thứ mười ba tiến tới, tôi nhận thấy hắn ăn mặc khác những người trong nhóm. Không cao lắm, hắn chỉ cao lớn hơn, nếu so sánh với những người áo xanh kia. Tóc hắn ngắn và bạc trắng, đeo cặp kính dày cộm, áo vàng, ủng xanh. Người hắn mập ú, tròn quay; tướng đi lạch bạch như vịt bầu.
Khi qua mặt chúng tôi hắn mỉm cười vui vẻ. Tôi cũng cười lại, nhưng Evra thì cứng đờ người không nhếch nổi mép.
Họ đi đến một bãi đất trống sau trại. Rồi những người áo xanh bắt đầu dựng lều - chắc họ
đều đem theo vật dụng dưới lớp áo choàng xanh. Người thứ mười ba tiến thẳng đến xe ông
Cao.
Tôi nhìn Evra. Toàn thân nó run rẩy, dù mặt nó không bao giờ trắng bệch - vì màu da khác thường của nó - nhưng lúc này nhợt nhạt hơn bao giờ. Tôi hỏi nhỏ:
- Cậu sao vậy?
Nó lặng lẽ lắc đầu, không mở miệng trả lời nổi. Tôi hỏi dồn dập:
- Chuyện gì? Sao cậu hốt hoảng quá vậy? Người đó là ai?
- Đó là... đó là...
Evra tằng hắng, hít mạnh một hơi. Khi nó cất tiếng nói, giọng nó run rẩy, thì thào, đầy
khiếp đảm:
- Đó là lão Tí-nị.
Tôi không thể nào cạy miệng cho nó nói thêm một lời nào nữa.
CHƯƠNG MƯỜI BA
Tới buổi chiều tối, Evra đã bớt sợ, nhưng nó vẫn chưa hoàn toàn bình thường như trước. Suốt đêm nó tỏ ra bực dọc, khó chịu. Tôi giật con dao, giúp nó gọt khoai tây cho bữa ăn chiều, vì sợ nó cắt phải tay.
Sau khi ăn và rửa chén bát, chúng tôi ngồi trong lều. Evra chơi với con rắn. Tôi lên tiếng hỏi về ông Tí-nị.
Evra im lặng, tôi tưởng nó sẽ không trả lời, nhưng rồi nó thở dài bắt đầu nói:
- Lão Tí-nị là sếp của những người Tí-hon.
- Là những người nhỏ bé trùm kín mít từ đầu đến chân đó hả?
- Đúng vậy. Lão gọi chúng là Tí-hon. Lão là sếp của đám đó. Lần sau cùng mình gặp lão là hai năm trước. Lão ít khi đến đây, nhưng mỗi lần lão xuất hiện là mình rùng mình, rởn cả tóc gáy. Đó là con người quỉ quái nhất mình từng biết.
- Tớ thấy ông ta cũng đàng hoàng đấy chứ.
- Lần đầu gặp lão, mình cũng nghĩ vậy. Nhưng cậu cứ đợi khi nào cậu có dịp nói chuyện với lão thử xem. Khó tả lắm, mỗi lần lão nhìn mình, mình có cảm giác như lão sắp giết mình, lột da đem nướng vậy.
- Lão ta ăn thịt người à?
- Không biết. Có thể đúng, có thể sai. Nhưng cậu sẽ có cảm giác là lão muốn ăn thịt cậu.
Không phải chỉ riêng mình có ý nghĩ kỳ cục đó đâu. Tất cả mọi người trong gánh xiếc đều có cảm giác giống như thế. Không ai ưa lão. Kể cả ông Cao. Mỗi khi lão quanh quẩn tại đây, ông Cao lại bẳn gắt, khó chịu.
- Sao lại không ai ưa? Những người Tí-hon phải mến lão mới theo và tuân lệnh lão chứ?
- Có lẽ chúng sợ lão. Có thể lão ép buộc chúng phải tuân phục vì chúng là nô lệ của lão.
- Có bao giờ cậu trò chuyện với họ chưa?
- Chúng không hề nói. Mình không biết là chúng không thể nói hay không thích nói, nhưng tất cả mọi người ở đây chưa bao giờ được nghe chúng nói một tiếng nào. Chúng rất siêng năng, làm tất cả những gì được bảo, nhưng câm lặng như những xác ướp biết đi.
- Cậu có thấy mặt họ không?
- Một lần. Chúng không bao giờ rời mũ trùm mặt. Nhưng một hôm, mình giúp hai tên Tí-hon di chuyển một cái máy rất nặng. Vì cái máy này đổ và nghiến nát chân một tên trong số
chúng. Chắc đau đớn lắm, nhưng tên bị nạn không hề thốt một tiếng rên. Mũ trùm đầu rớt sang một bên, vì vậy mình mới thoáng nhìn được mặt nó.
Vuốt ve con rắn, Evra lặng lẽ tiếp:
- Khủng khiếp lắm! Mặt nó đầy sẹo và vết khâu, lõm vào như bị một quái vật khổng lồ bóp
nát bằng móng vuốt. Không tai, không mũi, còn miệng có một vật như mặt nạ bịt ngang. Da
nó xám ngoét như người chết, mắt như hai cái bát màu xanh lù lù sát trán. Nó không có một
cọng tóc nào.
Evra rùng mình. Tôi cũng lạnh cả người.
- Rồi sao? Nó chết rồi à?
- Không biết. Mấy anh em nó khiêng đi. Mình luôn nghĩ chúng là anh em, nhưng chắc không
phải.
- Cậu không gặp lại hắn bao giờ sao?
- Chúng trông giống hệt nhau. Chỉ cao hơn hay nhỏ hơn nhau một chút, thật sự không có cách nào phân biệt được. Mình đã cố gắng nhiều rồi, nhưng... bó tay.
Toàn chuyện lạ lùng! Mà tôi vốn mê tít những chuyện kỳ bí, lạ lùng. Tôi thật sự muốn tìm hiểu về ông Tí-nị. Với khả năng của ma-cà-rồng, có thể tôi sẽ khám phá ra bí mật này, sẽ tìm cách nói chuyện với một tên Tí-hon áo xanh kia. Tôi hỏi Evra:
- Đám Tí-hon từ đâu tới?
- Không ai biết. Thường thì chúng có mặt tại gánh xiếc từ bốn đến sáu tên. Đôi khi tự đến
đông hơn. Đôi khi do lão ta đưa tới. Điều kỳ lạ là khi cậu tới, không có tên nào có mặt ở đây.
- Cậu nghĩ là có điều gì liên quan đến chuyện tôi và ông Crepsley tới đây?
- Tớ nghi lắm. Nhưng cũng có thể chỉ là tình cờ thôi. Hay là... định mệnh. Còn điều này nữa, cậu cần biết: Lão Tí-nị có họ là Desmond.
- Thì sao?
- Lão bắt mọi người gọi lão là Des.
- Là sao?
- Ghép mấy chữ đầu lại đi.
Tôi ghép thử: Des - Tí-nị... Destiny. Destiny. Destiny trong tiếng anh nghĩa là ĐỊNH MỆNH! Nghe tôi thì thầm, Evra gật đầu đồng ý.
Càng bị thôi thúc thêm vì tò mò, tôi đặt đủ mọi câu hỏi với Evra. Gần như nó chẳng biết điều gì hơn về ông Tí-nị, càng mù tịt về những người áo xanh trùm đầu. Nó chỉ biết họ ăn thịt, người họ bốc ra một mùi rất kỳ cục, di chuyển thật chậm chạp. Họ không hề biết đau (hay không hề bày tỏ sự đau đớn). Và họ không có chút tinh thần hài hước nào.
- Sao cậu biết họ không có óc khôi hài?
- Nhờ Bradley Kéo-dài. Lão vẫn thường đi diễn với đoàn. Chân tay lão dẻo như cao su, có thể
kéo dài lằng nhằng cả thước. Bradley có tật xấu là liên tục đem chúng tôi làm trò cười, tiếng
cười của lão dễ ghét lắm. Lối trêu chọc của lão ta không chỉ làm cho cậu cảm thấy mình là
một thằng ngố đâu, mà làm cho cậu cảm thấy mình thực sự là một đứa ngớ ngẩn, đần độn
nhất trên đời. Một lần, cùng diễn chung trong một lâu đài Ả Rập. Đó là buổi diễn dành
riêng cho một tiểu vương. Ông ta thích thú tất cả các màn diễn, nhưng đặc biệt nhất là đối
với tài năng của Bradley. Trong lúc chuyện trò, Bradley nói với tiểu vương, lão không thể
đeo bất cứ đồ trang sức nào, chúng sẽ bị rơi rớt hay vỡ tung vì sự thay đổi của hình thể lão.
Tiểu vương vội lấy một chiếc vòng nhỏ bằng vàng đeo vào cổ tay lão, rồi bảo lão thử biến
dạng thân thể. Thế là Bradley làm cho tay to đùng, nhỏ xíu, ngắn ngủn, dài thòng... nhưng
chiếc vòng vẫn cuốn quanh cổ tay lão. Tiểu vương bảo đó là nhờ phép thuật. Chỉ có thể
tháo vòng khi nào người đeo thực sự muốn. Đó là một món quà vô giá, nhưng ông tặng cho Bradley để tỏ lòng hâm mộ.
Evra nhìn tôi nói tiếp:
- Cậu hỏi mình vì sao biết những tên Tí-hon không có óc khôi hài và mình đã bảo là nhờ
Bradley mình mới biết, phải không? Chuyện thế này: Bradley rất khoái trêu chọc đám này. Lão giăng bẫy để treo họ tòng teng lên cao. Lão quăng áo choàng của họ vào lửa, bôi keo dính hay xà phòng lên dây biểu diễn, làm cho họ bị trơn trợt hay dính tay. Lão bỏ đinh vào đồ ăn của họ, hay khoá cửa xe, nhốt họ bên trong.
- Sao ông ta chơi ác thế?
- Mình nghĩ, tại đám kia trơ trơ, không hề tỏ ra một chút phản ứng nào. Lão Bradley chỉ
khoái làm người khác phát cáu, nổi quạu lên, lão mới đã. Đám Tí-hon thì lại không hề rên rỉ
kêu ca. Dường như chúng không quan tâm. Không quan tâm, đó là mọi người ở đây nghĩ thế.
Evra bật ra một âm thanh chẳng ra cười không ra rên:
- Hừ! Rồi một sáng thức dậy, chúng tôi chẳng tìm thấy Bradley ở đâu. Lão biến mất tăm.
Chúng tôi chẳng có gì lo ngại, tiếp tục lên đường, vì diễn viên đến rồi lẳng lặng đi là chuyện
thường xảy ra tại đây. Mình cũng chẳng nghĩ ngợi gì, cho đến hơn một tuần sau, lão Tí-nị
xuất hiện, đem đi tất cả đám Tí-hon, chỉ để lại hai tên. Ông Cao bảo mình giúp đỡ hai tên
còn lại này. Mình dọn dẹp quanh lều, cuốn võng hộ chúng (chúng chuyên môn nằm võng), vì
vậy mình mới có cái võng đang nằm đó. Mình kể cho cậu nghe chuyện này rồi phải không?
Nó chưa kể, nhưng sợ nó lạc đề, tôi nín thinh. Evra tiếp:
- Sau đó mình lấy cái chảo to đùng đặt trên bếp giữa lều đi rửa. Mình đem chảo ra ngoài, đổ xương thịt thừa lên bãi cỏ. Rửa cái chảo sạch bong, mình đem lại vào lều. Rồi chợt nhớ lời ông Cao vẫn nói: “Phí của trời, mười đời không có”, mình trở ra nhặt nhạnh thịt thừa cho Người-sói. Lẫn trong mấy mẩu xương mình chợt thấy một vật lóng lánh...
Evra thọc tay vào trong một cái túi xách, đặt dưới võng, lấy ra một cái vòng vàng nhỏ. Nó đeo vòng vào cổ tay trái, lắc tay thật mạnh. Cái vòng như bám chặt lên da thịt nó.
Evra ngừng lắc tay, gỡ nhẹ cái vòng bằng mấy ngón tay phải, quăng cho tôi. Tôi ngắm nghía,
hỏi:
- Vòng Tiểu vương cho Bradley?
- Nó đó. Mình không biết vì lão ta đùa quá lố hay vì chúng quá mệt mỏi vì bị liên tục trêu
chọc. Nhưng kể từ đó chúng tôi hết dám giỡn mặt với đám Tí-hon câm như hến, suốt ngày xùm xụp trong đống vải xanh lè đó.
- Cậu làm gì với... à... mấy miếng thịt thừa đó? Chôn à?
- Ồ, không. Mình đã bảo là cho Người-sói ăn mà.
Nhìn tôi nhăn mặt vì ghê sợ, Evra nói như cái máy:
- Phí của trời, mười đời không có nghe con!
Tôi trợn mắt nhìn nó rồi rũ ra cười. Hai đứa ôm nhau, cười lăn lộn trên nền đất. Tôi cố nín,
bảo:
- Không biết mùi thịt ra sao?
- Mình không biết. Chắc như mùi cao su.
Chúng tôi lại cười đến chảy nước mắt. Bỗng cửa lều được vén lên. Hans Tay-thần thò đầu vào hỏi:
- Tụi bây quậy gì mà dữ vậy? Ông Cao kêu hai đứa lên xe ông ấy ngay. Evra hỏi, vẫn còn rúc rích:
- Ông ấy cần tụi này làm gì vậy?
- Ông ấy không cần. Nhưng ông Tí-nị cần. Ông Tí-nị đang ở trên xe ông Cao. Lên ngay đi. Chúng tôi tắt ngay tiếng cười. Hans đi rồi, Evra lắp bắp:
- Tí...Tí... nị cần mình làm gì?
Tôi biết nó đang nghĩ gì, vì tôi cũng đang nghĩ đến điều đó: Bradley Kéo-dài, đám Tí-hon áo xanh và cái chảo to đùng với những mảnh thịt xương thừa.
CHƯƠNG MƯỜI BỐN
Khi chúng tôi bước vào, trong xe đã có mặt đầy đủ ba ông: Cao, Crepsley và Tí-nị. Evra run như tàu lá, nhưng tôi không lo lắng lắm. Bạn biết sao không? Nhìn vẻ bứt rứt khó chịu của hai ông Cao và Crepsley, tự nhiên tôi cảm thấy yên tâm.
Tí-nị mời chúng tôi tỉnh bơ như đây là nhà của lão ta, chứ không phải ông Cao mới là chủ
nhân.
- Vào đi các em. Cứ thoải mái như ở nhà mình vậy. Evra cố gắng nói:
- Tôi đứng được rồi. Tôi nói theo nó:
- Tôi cũng đứng.
Trong xe, lão Tí-nị là người duy nhất đang ngồi, tay mân mê một đồng hồ hình trái tim. Mỗi khi lão ngừng nói, tôi nghe rõ từng tiếng tíc tắc. Lão bảo:
- Tuỳ hai đứa. Này, chàng trẻ tuổi Darren Shan, em đúng là một thanh niên trên mọi phương diện rồi đấy. Hy sinh tất cả để cứu một người bạn, hiếm có chàng trai nào được như thế. Thời buổi này con người ích kỷ lắm. Thật đáng mừng khi thấy thế gian này còn sản sinh ra được những bậc anh hùng.
Ngượng đỏ mặt, tôi lúng búng nói:
- Tôi không phải là anh hùng.
- Có đấy. Em là một người hùng. Người hùng là gì nào? Là người làm tất cả để đem hạnh phúc cho người khác.
Tôi khoái chí mỉm cười. Không hiểu vì sao thằng Evra lại phải sợ ông già dễ thương, tốt bụng này nhỉ? Lão Tí-nị có gì đáng sợ đâu. Tôi thật sự mến lão rồi đấy.
- Crepsley cho ta biết em không chịu sử dụng máu người. Đúng, ta không trách em về chuyện đó. Máu người lớn tởm lắm, nhưng của trẻ con thì quá tốt, rất thuần khiết.
Tôi nhăn mặt cãi ngay:
- Không thể làm thế được. Trẻ em còn quá nhỏ và vô tội. Đó là tội giết hại trẻ em. Lão nhướng mắt, nhếch mép cười:
- Thì sao nào?
Một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Lão nói đùa sao? Nhưng nhớ lại vụ ông Bradley bất hạnh, tôi thấy lão hoàn toàn ngiêm túc. Thình lình tôi chợt hiểu vì sao lão già này làm người ta khiếp hãi đến như vậy.
Tôi tưởng tượng, con người này có thể giết hại cả ngàn sinh mạng chỉ để nghe tiếng gào thét vì đau đớn của họ. Lão nói tiếp:
- Em biết không, trông em rất quen. Chúng ta đã gặp nhau bao giờ chưa, Darren Shan? Tôi lắc đầu. Lão lại hỏi:
- Chắc chứ? Trông em quen lắm.
- Chưa. Nếu... nếu gặp... thì tôi đã nhớ.
- Đừng quá tin tưởng vào trí nhớ. Trí nhớ đôi khi là một con quái bịp bợm đấy. Nhưng không sao. Có thể ta lầm em với người khác.
Mép lão lại nhếch lên thành nụ cười (làm sao đã có lúc tôi nghĩ rằng đó là một nụ cười hiền lành được nhỉ?). Tôi biết lão vẫn chưa tin, nhưng rõ ràng là lão đã lầm tôi với ai đó, vì tôi chưa bao giờ gặp con người này.
Tay lão bóp chặt cái đồng hồ hình trái tim và trong một thoáng, hình như nó sáng rực lên và chảy ra. Tôi chớp mắt, rồi lấy tay dụi thật kỹ. Khi nhìn lại chiếc đồng hồ, ảo ảnh đó (chắc chỉ là ảo ảnh) không còn nữa. Lão ngồi thẳng lên, nói:
- Bây giờ vào việc. Các em đã thấy ta đến đây cùng đám Tí-hon. Đây là những tên mới được
thu nạp, chưa thành thạo việc ở đây. Thường thì ta ở lại dạy dỗ cho chúng được thuần
thục, nhưng ta kẹt công chuyện phải đi xa. Tuy nhiên đám này cũng thông minh lắm và chắc
chắn chúng học hành cũng rất mau. Ta mong hai chàng trai đàng hoàng, tốt bụng này giúp đỡ
chúng, để chúng mau chóng thích nghi với sinh hoạt chung của đoàn. Công việc cũng không nhiều đâu. Chủ yếu là tìm đồ ăn cho chúng. Vì, ta phải cho hai em biết, chúng rất háu ăn. Ta đã xin phép người quản lí của hai em - ông Cao và ông Crepsley rồi. Sao, hai chàng trai vui lòng giúp đỡ lão già này và những người bạn Tí-hon dễ thương rồi chứ?
Tôi nhìn Evra, thấy rõ nó không muốn nhận lời tí nào, nhưng vẫn phải gật đầu. Tôi làm theo
nó.
Lão Tí-nị tươi roi rói:
- Tuyệt lắm! Evra Von biết khẩu vị những cục cưng của ta rồi. Có vấn đề gì, cứ báo cáo lại ông Cao, ông ấy giải quyết giúp cho.
Nói xong, lão ngoắc tay cho phép chúng tôi lui ra. Evra muốn chuồn ngay, nhưng tôi đứng lại, lấy hết can đảm hỏi:
- Xin lỗi ông, nhưng vì sao ông gọi họ là Tí-hon?
Lão từ từ đảo mắt nhìn quanh. Dường như lão ngạc nhiên vì câu hỏi của tôi, tuy lão không lộ ra, nhưng tôi thấy rõ điều đó khi nhìn miệng ông Cao và ông Crepsley há hốc. Tuy nhiên Tí-nị vui vẻ cắt nghĩa:
- Vì chúng nhỏ... tí xíu.
- Vẫn biết thế, nhưng chẳng lẽ họ không có một cái tên riêng đàng hoàng sao? Nghe Tí-hon
cứ tưởng như những nhân vật trong truyện cổ tích, chẳng hạn như các cô tiên, các vị thần...
- Chúng là tiên đấy. Em thấy đầy rẫy trong truyền thuyết, truyện thần thoại, biết bao nhiêu
là những sinh vật nhỏ xíu có phép thuật, phải không? Truyền thuyết phải được bắt nguồn
từ một điều gì đó chứ. Những người bạn nhỏ bé, trung thành này bắt nguồn từ truyền
thuyết của ta.
- Ý ông là những người lùn trong bộ áo trùm xanh đó là... tiên.
- Không. Tiên làm gì có thật. Những người lùn, theo kiểu nói thô kệch của em, đã được
những con người ngu dốt nhìn thấy từ ngày xửa ngày xưa và đặt tên cho chúng là tiên, thần, yêu quái. Và họ đã dựng nên đủ thứ chuyện hoang đường về chúng.
- Vậy... chúng làm được những gì?
Nụ cười nhếch mép biến mất, lão gầm lên:
- Ta nghe nói mi là đứa tò mò hay hỏi, nhưng không ngờ mi... lắm mồm thế. Darren Shan, hãy nhớ điều này: chỉ vì tò mò mà con mèo bị sập bẫy.
Tức đến phát liều, tôi nói ngay:
- Tôi không phải là mèo.
Mặt tối sầm, lão vươn người sát tôi, rít qua kẽ răng:
- Nếu nói thêm một câu nữa, ta sẽ hoá kiếp mi thành mèo. Trên đời này, không có gì tồn tại mãi đâu, kể cả hình dạng của một con người.
Cái đồng hồ trong tay lão lại sáng rực lên, đỏ chót như một quả tim thật sự. Tôi thấy đã đến
lúc phải chuồn khỏi đây ngay. Ông Crepsley dặn dò:
- Đi ngủ đi. Đêm nay được nghỉ học.
Lão Tí-nị vẫy tay chào, giọng trở lại bình thường:
- Nhớ dậy sớm. Các cục cưng của ta xấu đói lắm, buổi sáng không có gì ăn, chúng ngứa răng lắm đấy.
Ra khỏi xe, chúng tôi chạy một mạch về lều. Lăn đùng ra sàn, hai thằng nghe tim nhau đập như tiếng trống. Một lát sau, Evra mới lên tiếng hỏi:
- Cậu điên hay sao ma hỏi lão lung tung vậy?
- Đúng, chắc mình điên thật.
Chúng tôi lên giường, nằm ngó nóc lều cả giờ. Rồi tôi chìm vào giấc ngủ, tôi mơ thấy lão Tínị và cái đồng hồ hình trái tim của lão. Nhưng trong mơ, đó không phải là đồng hồ. Đó là một quả tim người. Tim của tôi. Và khi lão bóp...
- Không.
Evra lên tiếng hỏi để Sam đổi đề tài:
- Cậu xin phép cha mẹ để gia nhập gánh xiếc chưa? Sam thở dài:
- Chưa. Mình định chờ tới trước khi đi, hay... đi khỏi đây, mình mới báo.
- Cậu vẫn giữ ý định theo gánh xiếc?
- Sao không? Tớ biết các cậu muốn gạt bỏ tớ, nhưng bằng mọi giá tớ sẽ đi theo đến cùng.
Hãy mở to mắt mà nhìn. Tớ sẽ đọc sách, học tất cả những gì về những màn trình diễn quái
dị, rồi mình sẽ tự đến ra mắt ông chủ của các cậu. Ông ta sẽ giang rộng hai tay mà đón tớ.
Tôi và Evra ngó nhau cười. Chúng tôi biết ước mơ của nó không đi tới đâu, nhưng không nỡ
nói ra.
Sau đó Sam đưa chúng tôi tới xem một nhà ga bỏ hoang, cách trại chừng hai cây số. Nó bảo:
- Tuyệt lắm. Trước kia tàu hoả vẫn qua đó. Họ sửa chữa, sơn phết, làm đủ chuyện vui lắm.
Rồi một nhà ga mới được xây dựng gần thị trấn hơn, nhà ga này bị phế bỏ. Chơi đùa ở đó
đã đời luôn. Có đường ray cũ, nhà xưởng bỏ hoang, có cả mấy toa tàu cổ lổ sĩ nữa. Đã lắm.
Evra hỏi:
- An toàn không?
- Má mình thì chắc chắn bảo là không rồi. Bà lo đủ thứ, nào là ngã lộn cổ từ mái tàu xuống, nào là lang thang trên đường rầy, tàu đi ngang, cán vỡ sọ... đủ thứ. Nhưng tớ chơi ở đó cả ngàn lần, có gì xảy ra đâu.
Đó là một ngày nắng đẹp, chúng tôi đang lang thang dưới những tàn cây rợp bóng, chợt tôi
đánh hơi thấy một mùi rất lạ. Tôi vội dừng chân. Evra cũng nhận ra mùi lạ dó. Tôi hỏi:
- Mùi gì vậy?
Evra hít hít không khí, lắc đầu:
- Mình cũng không biết. Từ hướng nào thế nhỉ?
Đó là một thứ mùi nặng nề, chua lè, khó chịu. Chỉ thằng Sam là không nhận thấy gì, nó tiến lại hai chúng tôi hỏi:
- Chuyện gì vậy? Sao hai cậu đứng...
“ÚM XÌ BÙA!” Một tiếng la rổn rảng ngay sau lưng chúng tôi. Một bàn tay cứng như sắt nắm vai tôi, xoay tôi ngược lại. Chỉ kịp thoáng thấy môt cái mặt to đùng, râu ria xồm xoàm, tôi ngã ngửa ra sau, vì bàn tay xô mạnh, làm tôi mất thăng bằng.
CHƯƠNG MƯỜI SÁU
Tôi lúng túng nhào xuống đất, kêu thét lên vì cánh tay nhói đau, nhưng vội quay đi, tránh cái nhìn dữ tợn của bộ mặt lông lá đang nhìn xuống tôi.
- Ồ, chú bé, tớ không làm chú đau chứ? Tớ chỉ giỡn, hù chú sợ chút chút cho vui thôi mà.
Giọng ông ta vui vẻ, hiền lành, không tỏ ra có ác ý. Tôi ngồi dậy, thoa khuỷ tay, bảo:
- Cháu không sao.
- Thật hả? Không gãy xương chứ? Tớ có lá thuốc chữa xương gãy đây. Sam đã chạy lại đứng bên Evra, nói:
- Thuốc lá không không làm lành xương gãy được.
- Chắc thế, nhưng làm người ta yên tâm, coi chỗ gãy như một vết nhăn nhỏ xíu trên bản đồ vũ trụ thôi. Tuy nhiên, thật ra, nó đau thấu trời luôn.
Sam nhăn mặt, ra điều thông minh cỡ nó cũng mù tịt, chẳng hiểu ông già lẩm cẩm này định
nói gì.
Tôi lại nói:
- Cháu không sao đâu. Chỉ mấy phút là êm thôi. Ông ta thở dài thườn thượt:
- Nghe vậy là tớ mừng rồi. Tớ chúa ghét làm người khác bị đau.
Tôi nhìn ông ta kĩ hơn. Tròn trịa, râu tóc dài, rậm rì, bù rối. Áo quần dơ bẩn, bốc mùi hôi phát khiếp. Có lẽ cả tháng rồi ông ta chưa hề tắm giặt. Trông ông ta thân thiện, dễ mến đến làm tôi phát ngượng vì đã tỏ ra quá khiếp đảm. Ông ta hỏi:
- Các chú em là người địa phương hả?
Sam nói ngay:
- Cháu thôi. Hai cậu này là người trong gánh xiếc.
- Xiếc? Quanh đây có xiếc à? Trời đất ôi! Vậy mà tớ không biết. Ở đâu? Tớ khoái hề xiếc
cực kỳ.
Sam bảo:
- Không phải xiếc đó đâu. Đây là xiếc quái dị.
- Hả? Xiếc quái dị?
Ông ta lom lom nhìn Evra. Những cái vẩy màu sắc, chứng tỏ nó là một trong những diễn
viên.
- Chú em là diễn viên trong đoàn, phải không?
Evra ngượng nghịu gật đầu. Ông ta dồn dập hỏi:
- Ở đó, người ta có hành hạ, đánh đập, bỏ đói chú em không? Nó lại ngượng nghịu lắc đầu:
- Chú em tự nguyện ở với họ?
- Phải, tất cả mọi người ở đó đều tự nguyện. Đó là gia đình chúng cháu.
- Tốt. Rất tốt. Vậy mà họ đồn có những gánh xiếc nhỏ... À, quên... Ông ta vỗ trán bồm bộp, nói:
- Tớ quên chưa giới thiệu tên mình, phải không? Tên tớ là R.C. Tôi thắc mắc:
- R.C? Tên gì kỳ cục vậy?
Ông ta bối rối, ho khù khụ, rồi mới hạ giọng thì thầm:
- Chữ tắt của... Reggie Chay.
Ba đứa cười hô hố, đồng thanh lặp lại:
- Reggie Chay!
Ông ta nhăn nhó:
- Khổ lắm! Tên thật tớ là Reggie, nhưng vì tớ ăn chay nên đám bạn trong trường kêu riết
thành chết tên luôn. Tớ không ưa cái tên đó, yêu cầu mọi người gọi mình là R.C. Nghe sành
điệu hơn, phải không? Nhưng nếu muốn, các chú em cứ gọi tớ là Reggie Chay cũng được.
Tõ ràng ông ta khổ sở vì cái tên thời đi học. Tôi bảo:
- Cháu thích gọi ông là R.C hơn.
Evra và Sam đều nói:
- Cháu cũng vậy.
R.C tươi tỉnh hẳn:
- Tuyệt! Rất tuyệt! Còn các chú em tên gì?
- Darren Shan.
- Sam Grest.
- Evra Von.
Ông ta cũng hỏi như lần đầu tôi gặp Evra:
- Evra Von thôi sao?
- Đúng vậy.
- Tuyệt! Rất tuyệt!
R.C là chiến sĩ bảo vệ thiên nhiên, đến đây để ngăn chặn việc mở đường. Ông ta đã từng đi
dọc ngang khắp nước, bảo vệ rừng, sông hồ, muông thú và những phong cảnh đẹp nổi
tiếng.
Chúng tôi mừng rú khi ông ta mời tham quan một vòng quanh trại. Tạm gác nhà ga sang một
bên. Dịp may thăm trại của những chiến sĩ bảo vệ môi trường đâu phải ngày nào cũng có
được.
Suốt dọc đường đi, ông luôn nói cho chúng tôi biết về cảnh quan chung quanh, về tất cả
những điều đáng trách do con người gây ra với Bà mẹ Thiên nhiên: rừng bị phá huỷ, sông
ngòi bị ô uế vì chất thải độc hại, muông thú đang bị con người làm cho tuyệt chủng. Ông
bảo:
- Các chú em biết không, tất cả những chuyện đó đang xảy ra trên chính đất nước chúng ta thôi. Tớ chưa nói tới những chuyện xảy ra tại những nơi khác đâu.
Các chiến sĩ như R.C bảo vệ trái đất thoát khỏi những con người nguy hiểm, tham lam;
những kẻ không cần biết hành động của chúng đã huỷ hoại môi trường sống đến thế nào. Những chiến sĩ bảo vệ thiên nhiên hành trình dọc ngang đất nước, để cảnh giác con người về những hiểm hoạ. Họ phát truyền-đơn và sách báo, để cổ động mọi người bảo vệ môi trường xung quanh.
Ông bảo:
- Nhưng tuyên truyền suông chưa đủ. Đó chỉ là bước khởi đầu. Chúng ta còn phải hành động thực sự, ráo riết hơn nhiều nữa. Phải ngăn chặn ngay sự phá hoại cảnh đồng quê. Chẳng hạn như vùng này đây: người ta đang xây dựng một con đường xuyên qua gò mộ cổ, nơi
nhiều ngàn năm trước, người nô lệ khổ sai đã chôn những người bạn xấu số của họ. Các chú em tưởng tượng nổi không? Phá huỷ một di tích lịch sử, chỉ để hà tiện cho tài xế rút ngắn đoạn đường chừng mười hay hai mươi phút.
R.C lắc đầu buồn bã:
- Đây là một thời đại điện rồ. Những gì chúng ta đang đối xử với hành tinh này, thì trong
tương lai sẽ có một ngày con người nhìn lại, lúc đó chúng ta sẽ được coi như những kẻ man rợ ngu xuẩn.
Ông ta bực tức như điên khi nhìn cảnh quan chung quanh. Sau một hồi nghe ông sôi nổi nói, cả ba thằng nhóc chúng tôi cũng tức giận không kém. Trước kia chẳng bao giờ chúng tôi nghĩ (và biết) những điều này. R.C bảo kẻ nào không nghĩ và hành động ngay bây giờ, khi thế giới điêu tàn sụp đổ, chẳng còn gì để than trách nữa.
Khoảng hai mươi chiến sĩ môi trường ngủ trong những túp lều lá tự dựng. Tất cả bọn họ đều bẩn thỉu và bốc mùi như R.C, nhưng họ đều vui vẻ và thân mật.
Sam hỏi R.C:
- Các ông ngăn chặn việc mở đường bằng cách nào?
- Tụi tớ đào hầm trong lòng đất, phá huỷ máy móc của chúng, đánh động giới thông tin. Lũ nhà giàu này sợ máy quay phim chĩa ống kính vào chúng lắm. Một nhóm phóng viên truyền hình gây hiệu quả gấp mấy chục chiến sĩ tụi tớ ấy chứ.
Sam hỏi có bao giờ các chiến sĩ phải sử dụng đến quả đấm chưa? Ông ta bảo các chiến sĩ không tin vào bạo lực, nhưng nhìn ánh mắt ông, chúng tôi có thể thấy là ông ta cũng ngứa ngáy tay chân lắm. Quả vậy, một lúc sau, ông ta nho nhỏ thì thầm:
- Tớ mà được chỉ huy, tớ sẽ cho tụi nó biết thế nào là lễ độ. Mềm quá hoá hỏng.
R.C mời chúng tôi ở lại ăn trưa. Bữa ăn chán ngắt, không có thịt, chỉ toàn gạo, rau, trái cây. Nhưng để tỏ ra lịch sự và làm ông ta vui lòng, chúng tôi ăn căng bụng.
Sau bữa ăn chúng tôi phải chia tay với họ. Các chiến sĩ còn nhiều việc phải làm, vì mấy hôm nữa họ lại chuyển đến nơi khác. R.C nói:
- Chúng tôi sắp đạt thắng lợi tại đây rồi. Nhưng cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn. Còn rất nhiều “chiến trường” khác vẫn đang chờ đợi.
Trên đường về Sam bảo:
- Cái ông R.C này lạ thật. Bỏ tất cả để đi tranh đấu cho mấy con thú, mấy mảnh rừng. Evra nói:
- Ông ấy làm điều mà ông ấy tin là đúng.
- Tớ biết. Tớ còn mừng vì có những người như ông ấy. Nhưng sống như vậy kỳ cục quá,
phải không? Phải tự hi sinh rất nhiều thứ. Tớ chịu thua, chẳng bao giờ làm chiến sĩ bảo vệ môi trường nổi đâu.
Tôi đồng ý ngay:
- Tớ cũng vậy.
Nhưng Evra lại bảo:
- Tớ khác. Tớ làm được.
Tôi bộp lại nó ngay:
- Sức mấy cậu làm nổi.
- Tại sao không? Mình sẽ đem con rắn đến sống và tranh đấu cùng họ.
- Sức mấy.
- Tại sao?
Tôi phá lên cười:
- Vì cậu không bốc mùi chua lè bằng họ. Evra cười toe:
- Ừa, mấy chả hôi khiếp quá. Sam đế thêm:
- Hôi kinh khủng hơn cả đôi bít-tất của mình hàng tuần không giặt. Evra nghiêm mặt nói:
- Mình nghĩ sau này, khi lớn lên, chắc mình phải sống còn tệ hơn, kham khổ hơn các ông ấy nhiều. Mình mong sau này, mình làm được như R.C.
Sam lại đồng ý ngay với Evra. Tôi bảo:
- Chắc tớ cũng sẽ có thể quen dần với cuộc sống như thế.
Suốt đường về trại, chúng tôi hồ hởi bàn tán ì xèo về R.C và các chiến sĩ bảo vệ môi trường. Không đứa nào trong chúng tôi có thể ngờ đến nhũng rắc rối và thảm kịch do người chiến sĩ bảo vệ môi trường hiền lành đó sắp gây ra.
CHƯƠNG MƯỜI BẢY
Mấy ngày sau đó, Evra và tôi vẫn tiếp tục với những công việc lặt vặt và lo ăn cho đám Tíhon. Tôi cố bắt chuyện, nhưng chúng luôn lảng tránh. Không cách gì phân biệt được chúng. Một anh chàng (hay cô nàng?) cao hơn và môt tên thấp hơn cả bọn. Một tên khác có chân trái hơi khập khiễng. Nhưng trông chúng giống hệt nhau.
Càng ngày Sam càng đến trại thường xuyên hơn. Chúng tôi không đưa nó đi săn, nhưng nhờ
nó giúp hầu hết những việc đáng lẽ chúng tôi phải làm trong trại. Nó làm việc cật lực, phần
để gây ấn tượng với hai đứa tôi, phần để cố gắng kiếm một chân chính thức trong gánh
xiếc.
Tôi ít gặp ông Crepsley. Ông biết tôi phải dậy sớm, săn mồi cho đám Tí-hon, nên ông để tôi tự do thoải mái rất nhiều. Điều này làm tôi rất mừng, vì không bị ông thúc ép uống “thuỷ ngân đỏ” của con người.
Rồi một buổi sáng, ông Cormac Tứ- chi xuất hiện, làm huyên náo cả trại.
Evra vừa kéo tôi đi vừa nói.
- Cậu phải gặp người này. Một diễn viên tuyệt nhất trên đời.
Khi chúng tôi tới chỗ đậu xe của ông Cao, một đám đông đang vây quanh Cormac Tứ-chi rồi.
Mọi người thân mật vỗ lưng ông, rối rít hỏi thăm: ông đến đây làm gì, thời gian qua đi đâu.
Ông ta cười, bắt tay, trả lời từng người. Đúng là một siêu sao, nhưng không hề chảnh.
Vừa thấy Evra, ông ta lách ra, ôm nó:
- A ha, con bò sát hai chân yêu quý của ta, cháu khoẻ không?
- Khoẻ re.
- Tốt. Gần đây có lột da không?
- Gần đây thì chưa.
- Nhớ nghe, ta muốn có bộ da. Tại nhiều nước, da Người-rắn cao giá hơn vàng dó.
- Ông muốn bao nhiêu cũng được. Nhưng, ông Cormac, đây là Darren Shan, bạn cháu. Cậu ấy là người mới, chưa bao giờ được gặp ông.
Ông ta kêu lên, làm bộ như... hơi bị tự ái:
- Ôi! Vô lý! Làm sao có thể chưa biết đến Cormac Tứ-chi này chứ? Ta tưởng, tất cả mọi người trên thế giới đều đã từng xem tài biểu diễn của Cormac rồi.
Tôi bảo:
- Thậm chí cháu con chưa nghe tên ông bao giờ.
Ông ta ôm ngực như lên cơn đau tim. Tôi hỏi:
- Ông bị sao vậy?
Cormac nhìn quanh đám đông, nhăn nhó hỏi:
- Mình có nên chứng minh không nhi?
Mọi người mừng rỡ, nhao nhao:
- Ồ, có chứ. Chứng minh đi.
Cormac nhìn ông Cao đang đứng sau đám đông. Ông Cao thở dài gật đầu:
- Chúng không để anh yên, nếu anh không biểu diễn vài trò đâu.
- Được. Nhưng tránh ra cho đủ chỗ chứ.
Tôi vừa giật lùi theo mọi người, Cormac nắm vai tôi giữ lại, nói với đám đông:
- Tôi mới từ xa tới, nên rất mệt. Không thể diễn hết chương trình được đâu. Biểu diễn vài trò cho vui thôi nghe.
Ông ta nắm bàn tay phải lại, nhưng đưa ra ngón trỏ, bảo tôi:
- Darren, làm ơn ngậm ngón tay này đi.
Tôi liếc Evra. Nó ra hiệu cứ làm theo lời ông ta. Cormac bảo:
- Nào, bây giờ thì cắn đi.
Tôi cắn nhè nhẹ. Cormac thúc giục:
- Mạnh hơn lên.
Tôi cắn mạnh hơn một chút. Cormac kêu lên:
- Thôi nào cậu bé. Không có răng à? Cắn cho ra cắn thử coi.
Được, muốn vậy, tôi cắn cho lão biết tay. Tôi há miệng, ngoạm một phát tưởng làm Cormac phải nhảy dựng lên. Nhưng, ngược lại, chính tôi là đứa nhảy dựng lên: tôi vừa cắn xuyên qua xương, cắt lìa ngón tay ông ta.
Khiếp đảm, tôi vội lùi lại, phun toẹt ngón tay đứt ra khỏi miệng. Tôi trố mắt nhìn, chờ một tiếng thét đau đớn, nhưng Cormac Tứ-chi lại ha hả cười, đưa cao hai tay đắc thắng.
Nơi tôi vừa cắn không một chút máu, chỉ là chân ngón tay mấp mô trắng hếu. Trong khi tôi ngó, một sự kỳ lạ xuất hiện: ngón tay ông ta đang từ từ... mọc lại!
Tôi tưởng mình bị quáng gà hay tưởng tượng, nhưng nó tiếp tục mọc lại thật, và chỉ vài giây sau, ngón tay dài trở lại như bình thường.
Cormac co duỗi để mọi người cùng thấy. Đám đông hoan hô như sấm dậy, còn tim tôi tưởng như ngừng đập.
Nhìn xuống ngón tay tôi đã phun ra: nó đang rữa dần, rồi chỉ còn lại là một nhúm cát nhỏ trên mặt đất.
Cormac Tứ-chi vỗ nhẹ đầu tôi, nói:
- Xin lỗi đã làm cháu sợ.
- Không sao. Cháu phải tập làm quen với những chuyện bất ngờ xảy ra tại đây. Cháu rờ thử được không?
Ông ta gật. Ngón tay mới đó chẳng khác gì với những ngón khác. Tôi hỏi:
- Ông làm cách nào vậy? Trò ảo giác, phải không?
- Không. Đó là lý do người ta gọi ta là Cormac Tứ-chi. Từ khi còn nằm nôi, ta đã có khả năng làm những phần thuộc tứ chi mọc lại, từ hai chân, hai tay đến các ngón. Không chỉ có thế, ngày còn bé, cha mẹ ta đã phát hiện ra tài năng đặc biệt của ta: phần nào của cơ thể ta cũng có thể làm cho mọc lai được. Trừ cái đầu. Chưa bao giờ ta dám thử cắt đầu. Chẳng dại gì thử thời vận bằng kiểu đó.
- Làm thế có đau không?
- Hơi hơi thôi. Khi một phần chân tay bị cắt, rồi mọc ngay lại tức thì, ta bị đau chừng mấy giây, giống như là...
Ông Cao cắt ngang:
- Thôi thôi. Chúng ta không có nhiều thời gian để anh dài dòng diễn tả đâu. Đoàn ăn không ngồi rồi suốt thời gian qua, chắc chắn khán giả tưởng chúng ta rã đám hết rồi. Nào, tất cả nghe đây, hãy rải người đi thông báo. Đêm nay chúng ta trình diễn.
CHƯƠNG MƯỜI TÁM
Suốt buổi chiều, trong trại rì rào hoạt động. Mọi người qua lại, tíu tít như bầy kiến. Một nhóm xúm xít dựng nhà bạt trình diễn. Chưa bao giờ tôi đựơc nhìn thấy nhà bạt của một gánh xiếc. Hình ảnh thật ấn tượng: một khối tròn, cao lớn màu đỏ, được trang trí bằng những hình ảnh của những diễn viên.
Tôi và Evra bận rộn đóng cọc để cho nhà bạt được chắc, kê ghế khán giả, dựng sân khấu, sửa soạn đạo cụ cho diễn viên (như tìm kiếm lon thiếc, bù lon, đinh ốc để làm món nhắm cho Rhamus Hai-bụng, chuyển vận chuồng Người-sói vào khu trình diễn...)
Một công việc đồ sộ như thế, nhưng ai cũng rõ phần hành của mình, mỗi nhóm lãnh một việc, nên tất cả hoàn tất một cách trót lọt, nhẹ nhàng với một tốc độ không ngờ.
Buổi chiều, Sam tới sớm. Tôi định bảo nó phụ vài việc, nhưng Evra bảo nó chỉ làm quẩn chân thêm. Sam vừa giận vừa buồn ra mặt, đá phăng một hộp thiếc lăn lóc dưới chân. Tôi cảm thấy tội nghiệp nó quá, rồi chợt nghĩ có cách làm cho nó vui trở lại. Tôi gọi:
- Sam. Chờ chút đã.
Tôi chạy vội tới xe ông Cao. Mới gõ một tiếng, cửa bật ra ngay. Tôi chưa kịp nói tiếng nào
ông Cao đã đưa cho tôi hai cái vé xem xiếc đêm nay. Nhìn hai tấm vé, rồi lại nhìn ông, tôi hỏi:
- Sao ông biết?
Ông ta mỉm cười đáp:
- Ta có cách riêng.
- Nhưng... cháu không có tiền.
- Ta sẽ trừ vào lương.
Cánh cửa xe đóng lại trước khi tôi kịp cảm ơn. Tôi hấp tấp chạy về đưa cho Sam hai cái vé.
Nó hỏi:
- Cái gì vậy?
- Vé đêm nay. Một của cậu, một của R.C.
- Ôi! Wow! Cám ơn nhiều, Darren.
Nó chộp vé, nhét ngay vào túi. Tôi bảo:
- Không có chi. Nhưng chúng tôi bắt đầu lúc mười một giờ, kết thúc gần một giờ sáng. Cậu đi được không?
- Được quá chứ. Ba má mình đi ngủ từ lúc ga lên chuồng. Mình chuồn ra êm ru.
- Nhưng nếu ba má cậu bắt gặp, chớ nói là đi đâu nghe không.
- Yên tâm. Mình kín miệng như bưng. Nó chạy như bay, đi tìm R.C.
Ngoài bữa ăn tối vội vàng, không còn giờ nghỉ nào cho đến giờ trình diễn. Trong khi Evra đi sửa soạn cho con rắn, tôi thắp nến trong nhà bạt. Đám Tí-hon lo phần bốn ngọn đèn chùm phía trên khán giả và một trên sân khấu.
Mags - một người đàn bà xinh đẹp trong nhóm bán quà lưu niệm và kẹo bánh trong giờ giải lao - nhờ tôi giúp một tay, vì vậy suốt một giờ tôi giúp chị ta xếp đặt vào khay những cái kẹo mạng nhện, tượng thuỷ tinh, lông Người-sói... Một tác phẩm mới, rất đẹp, tôi chưa từng thấy trong lần trước: búp bê hình mẫu Cormac Tứ-chi. Nếu bạn cắt một phần búp bê đó phần bị cắt sẽ mọc lại ngay. Mags cũng không hiểu vì sao. Chị ta bảo:
- Sáng chế của ông Cao đấy.
Tôi bẻ đầu búp bê, để xem thử bên trong có gì. Nhưng chưa kịp nhìn ngó, nó mọc ngay đầu
khác.
Mags bảo:
- Mấy con búp bê này không bền đâu. Chỉ vài tháng là rữa ra hết.
- Chị có nói cho người mua biết thế không?
- Tất nhiên. Ông Cao bắt buộc phải cho khách hàng biết chính xác họ đang mua gì. Ông không cho phép lừa bịp người khác đâu.
Ông Crepsley cho gọi tôi trước giờ mở màn nửa tiếng. Bước vào, tôi đã thấy ông ta chỉnh tề trong bộ vét-tông trình diễn. Ông ra lệnh:
- Chùi bóng lồng của quý bà Octa đi, rồi cháu sửa soạn lại quần áo cho tươm tất một chút.
- Để làm gì?
- Cháu sẽ ra sân khấu với ta.
Tôi trợn mắt, nghẹn thở:
- Nghĩa là cháu... cháu cũng diễn?
- Một vai nhỏ thôi. Cháu đưa lồng ra và thổi sáo khi quý bà Octa giăng tơ trên miệng ta.
- Ông Cao vẫn làm chuyện này mà?
- Đúng. Nhưng đêm nay chúng ta thiếu diễn viên. Ông Cao có màn biểu diễn riêng. Vả lại, cháu là phụ tá của ta, phải không nào? Cháu sẽ thích hợp hơn ông ta.
- Vì sao?
- Trông cháu... rùng rợn hơn. Với bộ mặt tái nhợt và bộ quần áo quái đản kia, cháu như vừa bước ra từ một bộ phim kinh dị.
Ông ta làm tôi hơi hoảng. Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại có một ngoại hình... rùng rợn. Tôi
liếc vào gương: trông tôi khiếp thật. Vì không chịu uống máu người, tôi xanh xao hơn trước
nhiều. Bộ đồ “tẩm liệm” dơ dáy càng làm tôi giống ma hơn. Nhất định sáng mai, tôi phải tìm một bộ đồ khác.
Buổi diễn bắt đầu đúng mười một giờ. Tôi không ngờ đông người xem dến thế - vì chúng
tôi ở giữa một nơi hoang vắng, thời gian quảng cáo gần như không có - nhưng trong nhà bạt chật cứng người.
Trong lúc Evra ngó ông Cao đang giới thiệu Người-sói, tôi thì thầm hỏi:
- Tất cả những người này từ đâu tới vậy?
- Mọi nơi. Chúng ta diễn ở đâu là họ biết ngay. Hơn nữa, tuy ông Cao mới chỉ cho chúng
mình biết hôm nay, nhưng chắc chắn ông ấy đã tính toán từ hôm cắm trại tại đây rồi.
Tôi thưởng thức những trò diễn còn say mê hơn lần đầu. Vì bây giờ, tôi quen biết tất cả những người trong cuộc và cảm thấy mình như một thành viên trong gia đình.
Hans Tay-thần ra sân khấu tiếp theo Người-sói, sau đó là Rhamus Hai-bụng. Nghỉ giải lao
lần thứ nhất xong, ông Cao phóng ra sân khấu, dường như không ai thấy ông di động, thoắt hiện tại góc này, lại có mặt ngay tại góc khác. Thoang thoáng như một bóng ma.
Sau màn trình diễn của Truska (cô gái có râu) là đến lượt tôi bước ra cùng Crepsley và quý bà Octa.
Ánh sáng lờ mờ nhưng với thị giác của một ma-ca-rồng, tôi nhìn thấy ngay Sam và R.C giữa đám đông. Cả hai đờ người khi trông thấy tôi, nhưng vỗ tay lớn hơn tất cả những người chung quanh. Tôi cố giấu nụ cười tươi rói: sư phụ tôi dặn dò, phải làm ra vẻ khốn khổ, thảm sầu mới gây được ấn tượng mạnh cho khán giả.
Đứng chờ ông Crepsley trình bày cho khán giả thấy quý bà Octa có thể gây nguy hiểm chết người như thế nào rồi tôi mới mở cửa lồng. Một phụ tá dắt con dê ra sân khấu.
Một tiếng la đầy giận dữ khi con nhện độc sát hại con dê. Đó là tiếng la của R.C. Lúc đó tôi mới hối tiếc, đáng lẽ tôi không nên mời ông ta, vì R.C rất thương yêu loài vật.
Tôi hơi hoảng khi thổi sáo điều khiển Octa giăng tơ quanh miệng ông Crepsley, vì cảm thấy mọi cặp mắt đang hướng về mình. Chưa bao giờ tôi biểu diễn trước đám đông, nên chỉ sợ thổi trật nhịp. Nhưng vừa bắt nhịp đầu tiên, tư tưởng tôi tập trung ngay và đã có thể truyền lệnh cho con nhện độc.
Nhìn nó di chuyển qua lại trên miệng ông ta, tôi chợt nghĩ: đây là cơ hội tốt nhất để làm điều mình hằng mong muốn.
Điều khiển cho con nhện độc cắn Crepsley lúc này là chuyện trong tầm tay tôi. Chỉ thổi sai một nhịp, chỉ một chút lơ đãng là ông ta mất mạng ngay và tất cả chỉ là tai nạn. Không ai có thể kết tội được tôi. Những cái nanh nhện sáng rực dưới ngọn đèn chùm. Hơi nóng của những ngọn nến như đặc sánh, làm mồ hôi tôi tuôn như tắm, càng dễ dàng cho tôi đổ tại những ngón tay ẩm ướt bị trơn trợt khi bấm trên ống sáo.
Hai tay ông Crepsley đang thả xuôi hai bên mình, miệng bị cuốn đầy tơ nhện. Chỉ cần một thoáng giây ngắt luồng tư tưởng giữa tôi và Octa, sẽ...
Nhưng tôi đã không làm điều đó. Tôi thổi hoàn hảo, an toàn tuyệt đối. Chẳng hiểu vì sao tôi
lại tha mạng cho con ma-cà-rồng đó. Có thể vì sợ ông Cao phát hiện. Có thể vì tôi vẫn cần
đến Crepsley dạy cho cách sống còn. Hay có thể vì tôi không muốn mình thành kẻ sát nhân.
Hoặc cũng có thể - ừ biết đâu được - vì tôi bắt đầu mến ông ta. Dù sao, chính ông ta đã đưa tôi vào gánh xiếc và cho tôi làm phụ diễn. Nếu không có ông, không bao giờ tôi gặp được Sam và Evra. Ông đối xử tốt với tôi, dù chỉ là tốt theo kiểu của một ma-cà-rồng.
Dù với lý do nào, cũng không thể để con nhện giết chết chủ nhân của nó được. Vì vậy, sau cùng, chúng tôi cúi chào khán giả, rời khỏi sân khấu rất êm đẹp.
Vừa khuất sau cánh gà, ông Crepsley nhỏ nhẹ bảo tôi:
- Cháu đã định giết ta.
Tôi ngu ngơ hỏi:
- Ông nói gì cơ?
- Cháu biết ta nói gì. Nhưng sẽ không thành công đâu. Trước khi diễn, ta đã rút gần hết nọc độc của Octa rồi. Nó chỉ còn đủ khả năng để giết chết con dê thôi.
Sự căm ghét lại sôi sục trong tôi. Trợn mắt nhìn ông, tôi hét lên:
- Ông thử tôi? Tất cả mọi việc, tất cả mọi lúc, ông đều tìm cách dò xét tôi.
- Ta cần phải biết có thể tin tưởng ở cháu được không. Tôi kiễng chân để có thể nhìn thẳng mắt ông ta:
- Vậy thì ông nghe đây. Cái trò thử thách của ông chẳng ăn thua gì đâu. Lần này tôi đã không giết ông, nhưng tôi sẽ không bỏ lỡ khi có cơ hội khác đâu.
Vùng quay phắt đi, tôi tức đến không thèm nán lại xem màn biểu diễn đầy hấp dẫn của Cormac Tứ-chi.
CHƯƠNG MƯỜI CHÍN
Sáng hôm sau tôi vẫn còn tức. Evra luôn miệng hỏi tôi có chuyện gì, nhưng tôi im lặng, không muốn cho nó biết chuyện tôi định giết ông Crepsley.
Evra bảo nó đã gặp Sam và R.C sau buổi diễn đêm qua.
- Sam mê tít, nhất là khi Cormac cưa đứt hai chân. Sao cậu không ở lại xem?
- Để lần sau. Còn R.C ông ấy có thích không?
- Không. Trái lại.
- Tức giận vì vụ con dê bị giết.
- Đúng. Nhưng mình bảo nó là con dê mua của hàng thịt, trước sau gì nó cũng phải chết. Người-sói, con rắn và Octa làm ông ta khó chịu nhất.
- Vì sao?
- Ông ta sợ chúng không được đối xử đàng hoàng. Việc nhốt chúng trong lồng, ông ta cho là tàn nhẫn. Mình bảo chỉ trừ con nhện, còn Người-sói thỉnh thoảng vẫn được ra ngoài, và cho ông ta thấy là con rắn con ngủ chung với mình nữa.
- Ông ta có tin cậu về vụ Người-sói không?
- Có thể, nhưng khi ra về, trông ông ta vẫn có vể nghi ngờ. Ông ấy rất quan tâm đến vấn đề ăn uống của chúng. Cho chúng ăn gì, đồ ăn lấy từ đâu? Phải thận trọng với cha này, ông ta rất có thể gây cho chúng ta nhiều rắc rối đấy. Cũng may là vài ngày nữa họ đi khỏi đây rồi. Tuy nhiên, cho đến lúc đó, chúng ta vẫn phải cảnh giác.
Một ngày yên tĩnh trôi qua. Xế chiều, Sam ghé tới, nhưng chúng tôi không có hứng thú chơi
đùa trong một ngày u ám như thế này, nên sau nửa tiếng quanh quẩn, Sam lủi thủi về nhà.
Mặt trời vừa khuất bóng, ông Crepsley gọi tôi tới lều. Tôi định không đến, nhưng nghĩ lại,
dù sao ông ta vẫn có quyền tống tôi ra khỏi đoàn, nên tốt nhất là đừng chọc giận ông ta thêm
nữa.
Gặp ông ta, tôi làu bàu hỏi:
- Ông cần gì?
- Đứng lại gần đây, để ta nhìn cho rõ.
Mấy ngón tay xương xẩu của ông ta lật ngửa đầu tôi ra sau. Vạch mắt tôi. Để quan sát tròng trắng, rồi ông ta bảo tôi há miệng để có thể nhìn thấu cuống họng. Sau khi bắt mạch cho
tôi, ông hỏi:
- Cháu cảm thấy sao?
- Mệt?
- Yếu? Bệnh?
- Hơi hơi thôi.
- Gần đây cháu có dùng máu tươi không?
- Có.
- Nhưng toàn máu loài vật, phải không?
- Phải.
- Được rồi. Chúng ta ra ngoài.
- Đi săn sao?
- Không. Đi gặp một người bạn.
Ra ngoài, tôi nhảy lên lưng ông và ông bắt đầu chạy. Nhưng qua khỏi khu vực trại của đoàn, ông vun vút phi hành. Quang cảnh chung quanh loáng thoáng giật lùi.
Đang mải nghĩ, cả ngày nay rảnh rỗi, mà quên khuấy chuyện kiếm tìm bộ quần áo mới, nên tôi không quan tâm mình đang được đưa đi đâu.
Bộ quần áo tôi đang mặc rách tả tơi, bạc thếch, đất cát bám đầy. Chưa bao giờ tôi quan tâm
đến chuyện chưng diện, nhưng tôi rất sợ trông mình như một thằng lang thang đầu đường
xó chợ. Nhất định ngày mai phải kiếm cho ra một bộ đồ mới.
Ông Crepsley giảm tốc độ khi chúng tôi tới một thành phố. Chúng tôi ngừng lại mặt sau môt toà nhà cao tầng. Vừa định hỏi nơi này là đâu, ông Crepsley đưa ngón tay lên môi, ra hiệu
bảo tôi yên lặng.
Ông ta đặt một tay lên cánh cửa khoá, tay kia búng tách một tiếng. Cửa bật mở ngay. Ông đi trước dẫn đường dọc một hành lang tối, rồi qua một cầu thang, chúng tôi lên tới một phòng sáng rực ánh đèn.
Đứng trước một cái bàn trắng toát, ông Crepsley nhìn quanh để biết chắc trong phòng chỉ có hai chúng tôi. Ông kéo sợi dây chuông trên tường. Cánh cửa của bức tường kính sau cái bàn hé mở. Một người đàn ông mặc toàn màu trắng, khẩu trang xanh, bước ra, lên tiếng:
- Tôi có thể giúp gì đây... Ồ! Larten Crepsley! Quỷ già. Ông làm gì ở đây vậy?
Người đàn ông mở khẩu trang, nên tôi có thể thấy ông ta đang cười mừng rỡ. Hai người bắt tay nhau. Crepsley nói:
- Chào Jimmy, lâu lắm mới gặp anh.
- Quá lâu. Nhưng tôi nghe đồn là anh bị giết chết rồi mà. Thiên hạ kể tùm lum chuyện ông bị kẻ thù đâm một cây gậy xuyên qua tim.
- Đừng nghe tin đồn nhảm. Jimmy, đây là Darren Shan, bạn đồng hành của tôi. Darren, đây
là Jimmy Ovo, một người bạn cũ của ta. Ông ấy là một nhà bệnh lý học tài năng nhất thế
giới đấy.
Tôi chào. Nhà bệnh lý học bắt tay tôi, nói:
- Rất hân hạnh được biết em. Em không là một... À, tôi định hỏi, em có phải là... người trong hội không?
Ông Crepsley lên tiếng:
- Darren là ma-cà-rồng.
Tôi vội cải chính ngay:
- Một nửa thôi.
Jimmy nhăn nhó:
- Ồ, đừng ngại Darren, mình biết những người trong hội ra sao mà. Mình không nghĩ ngợi gì
đâu. Nhưng thú thật nghe tới tiếng “ma” là rùng cả mình rồi. Có lẽ vì xem quá nhiều phim
kinh dị thôi. Biết là các bạn không phải là quái vật, nhưng khó mà quên nổi những hình ảnh
đó trong phim.
Jimmy làm bộ rùng mình, le lưỡi. Tôi hỏi:
- Nhà bệnh lý học là sao?
- Mình mổ những cái xác, để tìm hiểu vì sao họ chết. Không phải tất cả mọi xác đâu, chỉ mổ xác những cái chết khả nghi thôi.
Ông Crepsley nói thêm:
- Đây là nhà xác thành phố. Lưu giữ những xác chết của bệnh viện. Tôi chỉ căn phòng phía sau bức tường kính:
- Đó là nơi lưu giữ xác phải không?
Jimmy vui vẻ gật đầu, mời chúng tôi vào trong. Tôi bị ngỡ ngàng, vì tưởng sẽ thấy hàng
chục cái bàn, chồng chất những thây người đã được mổ toang hoác. Nhưng không phải vậy. Chỉ có một cái xác, phủ vải trắng từ đầu đến chân, trong căn phòng rộng mênh mông, đèn sáng rực. Nhiều tủ hồ sơ kê sát tường và những dụng cụ y khoa rải rác đầy phòng.
Khi chúng tôi ngồi xuống ba cái ghế gần xác chết, ông Crepsley hỏi:
- Bận rộn lắm không?
- Không đâu. Thời tiết tốt và cũng ít có tai nạn giao thông, không có bệnh lạ, không ngộ độc thức ăn, không nhà nào bị đổ. À này, tôi giữ một bạn cũ của ông ở đây mấy năm rồi.
- Ồ! Ai vậy?
Jimmy khịt khịt mũi rồi tằng hắng mấy tiếng. Ông Crepsley kêu lên:
- Barver Purl? Làm sao mà con chó già đó lại...
Hai người quay qua bàn bạc về Barver Purl. Tôi nhìn quanh, thắc mắc, không biết còn
những xác khác để đâu. Khi họ ngừng nói chuyện, tôi hỏi Jimmy. Ông ta đứng dậy, bảo tôi theo đến những tủ hồ sơ, rồi kéo một ngăn ra.
Khói lạnh mù mịt toả ra từ ngăn kéo. Khi lớp hơi lạnh tan hết, tôi thấy tấm vải phủ màu
trắng. Thì ra đây không phải là những tủ hồ sơ. Đó là những quan tài lạnh chứa xác chết.
Jimmy nói:
- Chúng tôi lưu giữ xác tại đây cho đến khi nghiên cứu xong, hay có thân nhân đến lãnh về. Tôi nhìn quanh, đếm những hàng ngăn kéo, hỏi:
- Trong những ngăn này đều có xác sao?
- Không. Hiện nay chúng tôi chỉ còn lại sáu vị khách thôi, chưa kể vị khách trên bàn kia. Tôi đã bảo rồi mà thời gian này rảnh rỗi lắm. Nhưng kể cả thời điểm bận rộn nhất cũng vẫn có nhiều ngăn bỏ trống.
Ông Crepsley hỏi:
- Có cái nào còn tươi không? Tôi kêu lên:
- Chuyện gì vậy? Ông không định sử dụng xác chết đấy chứ? Crepsley lôi từ trong áo choàng ra mấy cái chai nhỏ:
- Ta cần phải chứa đầy mấy chai này.
- Không làm như thế đựơc.
- Tại sao?
- Lấy máu của người chết là không đàng hoàng.
- Người chết không cần đến máu nữa. Vả lại lấy đầy những chai này của người sống, phải cần nhiều thơi gian, nguy hiểm, công sức...
Jimmy nhận xét:
- Darren nói năng không giống một ma-cà-rồng chút nào. Ông Crepsley ậm ừ:
- Nó còn đang học tập. Nào, vào việc đi. Tôi không rảnh suốt đêm đâu.
Jimmy kéo ra một người đàn ông cao lớn, tóc vàng rồi lật phăng tấm vải phủ. Trên đầu
người đó có một vết thương, da trắng toát, nhưng trông ông ta như người đang ngủ.
Crepsley rạch một đường dài trên ngực người đàn ông để lộ ra trái tim của người chết. Đặt cái chai bên cạnh xác, lấy ra một cái ống, rồi một đầu ông cắm vào chai, đầu kia lùa vào quả tim, ông ta nhè nhẹ bóp như bóp một cái bơm. Máu từ tim chuyển dần sang chai. Chai gần đầy, Crepsley ngậm đầu ống, đóng nút chai, rồi chuyển ống sáng chai khác.
Liếm quanh răng như để thử chất lượng, Crepsley chép miệng:
- Tốt, rất tinh khiết, dùng được.
Chứa đầy tám chai nhỏ, Crepsley nhìn tôi nghiêm nghị:
- Darren, ta biết cháu không muốn, nhưng đây là lúc cháu phải...
- Không.
Tôi bật nói. Ông ta gắt:
- Thôi đi Darren. Người này chết rồi, chúng ta có làm gì hại hắn đâu.
- Tôi không thể. Đây là một xác chết.
- Nhưng còn tươi. Với người sống cháu cũng không dám... Jimmy lên tiếng:
- Nếu cần, tôi sẽ lấy...
Crepsley quát lớn:
- Im đi, Jimmy. Darren, uống đi. Mi là một phụ tá ma-cà-rồng, đã đến lúc phải cư xử cho đúng cách.
Tôi năn nỉ:
- Nhưng không phải đêm nay. Để khi nào tìm được một người sống đã. Tôi tởm xác chết
lắm.
Crepsley lắc đầu ngao ngán:
- Sẽ có ngày mi nhận ra mi ngu ngốc đến thế nào. Lúc đó chẳng còn cách nào cứu nổi mi đâu.
Quay qua cám ơn Jimmy, rồi ông ta lại cùng nhà bệnh lý học ông chuyện về những người bạn cũ. Tôi im lìm ngồi, khổ sở với ý nghĩ tôi còn kéo dài cuộc sống này bao lâu nữa.
Sau đó Jimmy tiễn chúng tôi xuống nhà và vẫy tay chào. Ông ta là một người tử tế, chỉ tiếc là tôi đã gặp ông trong hoàn cảnh ảm đạm này.
Suốt đường về, Crepsley không nói tiếng nào. Tới trại, ông ta giận dữ quăng tôi xuống, chỉ mặt bảo:
- Nếu mi chết, không phải lỗi lại ta đâu.
- Đúng vậy.
Vừa càu nhàu ông ta vừa nhảy vào trong quan tài.
Tôi nấn ná thức, nhìn mặt trời lên. Tôi suy nghĩ rất nhiều về tình trạng của mình, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, nếu sức khoẻ cứ hao mòn dần đưa tôi đến cái chết.
Tôi phải làm sao đây? Bỏ qua nguồn gốc, chấp nhân uống “thuỷ ngân đỏ”? Hay trung thành với nguồn gốc loài người của mình và ... chết?
CHƯƠNG HAI MƯƠI
Ngày hôm đó tôi ở lì trong lều. Nghe tiếng Sam, tôi cũng không bước ra. Tinh thần sa sút
thảm hại, tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, mọi chốn. Chẳng là người, cũng không thể là ma. Tôi bị giằng xé giữa hai ngả đường.
Ban đêm tôi ngủ li bì, nên sáng hôm sau tôi cảm thấy khá hơn. Mặt trời lên rạng rỡ và dù vấn đề của tôi vẫn còn nguyên đó, nhưng tôi tạm thời quên đi.
Vì con rắn bị bệnh, nên khi Sam rủ đi xem nhà ga bỏ hoang, Evra phải ở lại lều để săn sóc cho con rắn của nó.
Khu nhà ga cũ rất tuyệt. Một sân tròn, rộng bao la, viền đá, một ngôi nhà ba tầng, trước kia là văn phòng bảo vệ, vài nhà kho cũ kỹ và rất nhiều toa tàu bỏ phế. Cỏ mọc tràn lan trên những đường rầy.
Hai đứa chúng tôi nhảy qua những thanh đường tàu, thỉnh thoảng làm bộ trượt chân kêu rú
lên. Nhờ khả năng của ma-cà-rồng, tôi giữ thăng bằng rất tài tình nên chơi trò này trội hơn
Sam.
Những toa tàu tả tơi mục nát, nhưng có vài toa gần như con nguyên vẹn tuy phủ đầy bụi đất. Chúng tôi leo lên nóc nhà, giang hai tay đón ánh mặt trời.
Một lát sau, Sam bỗng nói:
- Cậu biết tụi mình nên làm gì không?
- Làm gì?
- Cắt máu ăn thề, kết làm anh em.
- Là sao?
- Vui lắm. Mỗi đứa mình cắt chút xíu trên tay, đặt lên nhau và thề sẽ là bạn thân suốt đời.
- Hay đấy. Cậu có dao không?
- Tụi mình lấy mảnh kính, ở đây thiếu gì.
Sam nói, rồi bò ra sát mí góc tàu, vươn tay xuống một cửa sổ vỡ. Khi trở lại, nó dùng mảnh kính rạch một vết nhỏ trên bàn tay, rồi đưa mảnh kính cho tôi.
Vừa định cắt tay mình, tôi khựng lại. Có thể một chút máu ma-cà-rồng chắc không đến nỗi nguy hại cho Sam,nhưng nghĩ lại, tôi lắc đầu bảo:
- Tớ không làm đâu.
- Làm đi, đừng sợ. Cắt tí xíu không đau đâu.
- Không.
- Hèn. Gà chết.
Rồi nó ngoác mồm hát:
- Hèn hẻn hèn hen, hèn như gà chết.
- Ừa, tao hèn.
Tôi phì cười nói. Thà nói láo còn hơn cho nó biết sự thật.
- Ai chẳng sợ một cái gì đó. Mới nhờ cậu tắm cho Người-sói, cậu đã sợ *** tè đó thôi.
Chúng tôi chọc phá nhau chán, nhảy xuống đất, chạy về ngôi nhà bảo vệ. Bước vào ngôi nhà cửa long kính vỡ, qua mấy phòng nhỏ, chúng tới một phòng lớn, chắc trước kia đây là phòng họp. Vòng qua một lỗ thủng to đùng giữa sàn nhà, Sam bảo:
- Ngó lên kìa.
Tôi ngước nhìn... thẳng lên mái nhà. Vì sàn của những từng trên đã sụp đổ từ đời nào rồi.
Bốn chung quanh chỉ con trơ lại những bức tường ọp ẹp. Ánh nắng xuyên qua mái nhà lỗ
chỗ thủng.
- Theo tớ.
Vừa nói Sam vừa đi trước lên cầu thang. Tôi lò mò theo sau, leo lên cái cầu thang rệu rạo như răng bà già, vì không muốn lại bị nó gọi là gà chết thêm nữa.
Cầu thang dẫn tới lầu ba. Chúng tôi vươn tay đụng mái nhà. Tôi hỏi:
- Leo lên mái được không?
- Được chứ, nhưng hơi bị nguy hiểm đấy. Mấy cái xà này muốn long ra hết rồi.
Nó dò dẫm quanh phần còn lại của căn phòng. Tôi dựa lưng sát tường, lần theo cho chắc ăn,
hỏi nó:
- Ê, liệu mấy mảnh sàn này có ụp xuống không?
- Biết đâu à.
Tôi vươn cổ, nhìn phía sau nó. Chúng tôi đã ra gần tới mấy cái đòn tay. Đó là sáu hay bảy cây gỗ dài, gác từ đầu này tới đầu kia căn phòng. Sam cắt nghĩa:
- Đây là rầm thượng.
- Tớ cũng đoán thế.
Nó toe toét cười:
- Thế cậu có đoán được tụi mình sắp chơi trò gì không?
Tôi nhìn nó lom lom, rồi ngó xuống mấy cây đòn tay:
- Cậu định... định... bước qua mấy cây gỗ kia, phải không?
- Chỉ được cái đoán đúng.
Nó cười cười đặt chân trái lên một cây dòn. Tôi vội kêu lên:
- Sam. Không hay ho gì đâu. Cậu bước qua mấy thanh đường tàu còn lảo đảo. Nếu trượt
chân...
- Không bao giờ. Dưới đất tớ không khéo léo bằng trên cao đâu. Nó từ từ bước, hay tay giăng ngang giữ thăng bằng.
Tim tôi như muốn lộn lên tới miệng. Tôi liếc xuống dưới, nếu nó ngã, không thể nào thoát
chết được. Tính cả từng trệt, thì tất cả là bốn tầng. Trời ơi! Quá cao như thế này, làm sao
sống nổi!
Nhưng Sam tới đầu kia một cách an toàn. Nó quay lại, cúi đầu chào. Tôi thét lên:
- Mày điên rồi.
- Sao lại điên? Can đảm chứ. Còn cậu? Dám không? Cậu sẽ vượt qua dễ hơn tớ nhiều.
- Vì sao?
- Vì gà có tới hai cái cánh mà.
Đã thế, tôi cho nó biết tài của ma-cà-rồng.
Hít sâu một hơi. Tôi thoăn thoắt bước qua, chỉ mất mấy giây, tôi đã đứng bên cạnh nó. Sam thộn mặt, hít hà:
- Wow, thật không ngờ! Tôi khoái chí bảo:
- Muốn theo nghề xiếc thì hãy thủ thân lấy vài trò. Nhớ không, chú em?
- Cậu nghĩ mình có thể đi nhanh như thế không?
- Đừng liều.
Nó thách tôi:
- Tớ cá là cậu cóc dám làm lai lần nữa đâu.
- Nhìn anh đây, chú em.
Tôi phăng phăng đi trở lại, còn nhanh hơn lần đầu.
Lần lượt từng cây đòn, chúng tôi đi qua đi lại, cười rúc rích. Sam bỗng ngừng lại giữa chừng, hỏi:
- Ê, chơi trò soi gương không?
- Là sao?
- Tớ làm gì, cậu làm theo đó. Như thế này này.
Nó ngoáy ngoáy bàn tay trên đầu. Tôi đưa tay lên bắt chước, bảo:
- Hiểu. Trừ trò cậu lộn cổ xuống đất chết, tớ không làm theo đâu.
Nó cười hô hố rồi nhăn nhó. Tôi cũng cười, rồi nhăn như khỉ. Nó đứng một chân. Tôi làm theo. Nó cúi xuống, rờ ngón chân cái. Tôi làm giống hệt. Rồi không đợi đến lượt mình, tôi biểu diễn trò nhảy từ cây đòn này sang cây đòn khác. Cu cậu bó tay luôn.
Lần đầu tôi hãnh diện vì có máu ma-cà-rồng. Và đó cũng chính là trò đã gây nên chuyện.
Hoàn toàn bất ngờ, tôi vừa khom mình để rờ ngón chân, bỗng mặt mày xây xẩm, hai tay chới với, chân run cầm cập.
Đây không phải lần đầu tôi bị chóng mặt. Nhưng nếu ở dưới đất, tôi chỉ ngồi nghỉ cho qua cơn. Còn lần này, tôi đang chơi vơi trên tầng bốn của toà nhà, không có chỗ để ngồi.
Cố gắng hạ thấp mình xuống, tôi hy vọng sẽ bám vào đòn tay và từ từ bò qua. Nhưng trước khi nắm được cây đòn, tôi bị trượt chân và rơi thẳng xuống...
CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT
Với khả năng của ma-cà-rồng, tôi vươn tay nắm được cây đòn. Nếu là một đứa trẻ bình thường, tôi đã không đủ sức níu chặt thanh gỗ đó. Nhưng tôi có một nửa máu của ma-cà-
rồng, nên dù chóng mặt, năm ngón tay tôi vẫn có thể bám chặt, mắt nhắm nghiền, trong khi thân mình đong đưa trên bốn từng lầu.
Sam rối rít kêu lên:
- Darren, nắm chặt. Đừng sợ. Tớ tới ngay đây.
Nó vừa lần mò tiến lại, vừa không ngừng động viên tôi bình tĩnh, không sao đâu, nó sẽ kéo tôi
lên.
Những lời nói của nó làm tôi lên tinh thần. Nếu không có Sam, chắc tôi đã đành buông tay, vì gần như không còn chịu đựng hơn được nữa.
Tôi cảm thấy cây đòn rung len bần bật theo bước chân của Sam. Nghe tiếng răng rắc của cây gỗ, tôi lo sợ sức nặng của hai đứa sẽ làm cây đòn bị gãy. Nhưng Sam đã bò được tới sát tôi. Nó dặn dò:
Bàn tay nó đã chạm vào cổ tay tôi. Nó lại căn dặn:
- Cứ từ từ, đừng buông tay ra ngay nhé. Tớ không đủ sức kéo cậu lên đâu, chỉ xoay mình cậu,
để cậu có thể với tay kia lên nắm cây đòn. Lúc đó chúng ta mới có thể tìm cách cho cậu lên.
Rõ?
- Rõ, thưa đại uý.
Tôi nói, miệng cười méo xệch. Sam nhè nhẹ đong đưa chân tôi, một tay nó vẫn nắm chặt cổ
tay tôi đang bám chặt thanh gỗ. Sau vài lần, cảm thấy đủ sức tung người cao hơn, tôi nhắm
cây đà nhỏ, vươn tay kia nắm lấy. Lúc này, sức nặng trên cánh tay phải đã giảm hẳn. Sam
hỏi:
- Cậu có thể đu người lên được chưa?
- Được.
- Tớ sẽ ôm ngực cậu kéo lên, rồi lùi lại để cậu có chỗ quắp hai chân lên cây đà. Được chứ?
Nó nắm cổ áo trong lẫn áo ngoài của tôi, phòng xa tôi bị trượt tay, rồi ráng sức lôi tôi lên.
Ngực và bụng tôi bị trầy xát, nhưng tôi mừng vì đã thoát chết. Hai đứa lần mò tới đầu cây
đòn. Chúng tôi đã được an toàn. Dựa lưng vào tường, tôi rùng mình thở dốc. Sam bảo:
- Đã quá hả? Chơi nữa không?
Nể nó luôn!
CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI
Xuống hết mấy cầu thang tôi vẫn còn hơi chóng mặt. Chúng tôi trở lại ngồi nghỉ trong một toa tàu. Tôi nói nhỏ với Sam:
- Cậu đã cứu mạng mình.
- Quên đi. Nếu tôi bị thế, cậu cũng cứu vậy.
- Chắc thế. Nhưng mình suy nghĩ chậm chạp lắm, chưa hẳn đã được việc như cậu đâu.
Thật sự cậu đã cứu mình. Sam, mình rất mang ơn cậu. Muốn gì cậu cứ nói, bằng giá nào, mình cũng sẽ làm cho cậu.
- Thật hả?
- Thề.
- Có một việc.
- Nói đi.
- Tớ muốn gia nhập gánh xiếc.
- Sam ơi là Saaaammmm!
- Chẳng khó tí nào. Cũng chỉ việc gặp ông chủ, nói vài lời hay hay vào cho tớ. Nào Darren, cậu có hứa nói giúp tớ không?
- Thôi được, mình sẽ nói với ông Cao.
- Bao giờ?
- Hôm nay. Ngay khi về tới trại.
Sam đấm tay vào không khí, hớn hở la lên:
- Đã quá ta ơi!
- Mình sẽ làm tất cả những gì có thể, nhưng nếu ông Cao từ chối, chuyện sẽ chấm dứt tại đó. OK?
- OK.
Một tiếng nói chợt vang lên ngay sau lưng chúng tôi:
- Có lẽ mình cũng kiếm đựơc một việc tại đó nhỉ.
Chúng tôi quay phắt lại: R.C đang cười rất kỳ cục. Tôi bực mình nói:
- Đừng rình mò như thế chứ. Ông làm chúng tôi hết hồn.
- Rất tiếc, chú em.
Mặt ông ta tỉnh bơ, chẳng có vẻ gì tỏ ra “rất tiếc”. Sam hỏi:
- Ông làm gì ở đây vậy?
- Tìm Darren. Tớ chưa có dịp cảm ơn về cái vé.
- Không có chi. Rất tiếc, vì bận việc, nên đã không gặp ông sau buổi diễn được. R.C ngồi xuống bên tôi:
- Tớ hiểu mà. Một chương trình như thế chắc là phải bận rộn lắm. Tớ cá là họ bắt chú em làm bù đầu, đúng không?
- Phải.
Ông ta ngó chúng tôi, cười rạng rỡ. Nụ cười đó làm tôi không yên tâm. R.C lại hỏi tiếp:
- Này, Người-sói ra sao rồi?
- Khoẻ.
- Bị trói suốt ngày đêm à?
Nhớ lời cảnh giác của Evra, tôi nói ngay:
- Không. Làm gì có chuyện đó.
R.C làm bộ ngạc nhiên:
- Không? Một con vật hoang dã nguy hiểm thế mà lại không bị xiềng xích gì sao?
- Nó không thật sự nguy hiểm đâu. Biểu diễn thế thôi. Nó thật sự được thuần hoá rồi.
Sam nhìn tôi trừng trừng. Nó thừa biết Người-sói hung dữ cỡ nào, không hiểu vì sao tôi phải nói dối.
R.C hỏi:
- À, này, một... thứ như thế thì ăn gì?
- Bò bíp-tết, heo bằm, xúc xích. Bình thường vậy thôi.
- Thật à? Còn con dê bị nhện giết, ai ăn?
- Tôi không biết.
- Evra bảo, hai chú em đã mua con dê của một nhà nông. Nhiều tiền không?
- Không nhiều đâu. Nó bị bệnh rồi mà.
Tôi im bặt. Nhớ ra là Evra bảo mua con dê từ một cửa hàng thịt, không phải nhà nông. R.C bình tĩnh nói:
- Tớ đã làm một màn kiểm tra rồi, chú em. Mọi người trong trại của tớ đang bận rộn thu xếp dọn đi, nhưng tớ thì làm một vòng thăm hỏi, đếm gia súc và... đào bới xương. Nhà nông không phát hiện ra vài con bị mất vì bầy đàn quá lớn. Nhưng tớ lại lấy làm lạ vì chúng bị biến mất. Ai lấy, chú em có đoán ra được không?
Tôi không trả lời, R.C tiếp:
- Còn điều này nữa, lang thang dọc bờ sông, nơi gánh xiếc cắm trại, tớ phát hiện dưới sông cả đống xương, da, thịt vụt. Từ đâu đổ ra vậy, Darren?
Tôi đứng dậy, nói:
- Không biết. Bây giờ tôi phải về làm việc.
- Không muốn chuyện trò chút nữa sao?
- Chừng nào các ông nhổ trại? Tôi muốn ghé lại chào trước khi các ông đi.
- Chú em tốt quá. Nhưng đừng lo, tớ chưa đi vội đâu.
Tôi nhíu mày hỏi:
- Sao ông bảo sắp chuyển đến nơi khác?
- Hì hì, đội bảo vệ môi trường sẽ chuyển đi. Thật ra, họ đã đi rồi, từ chiều tối hôm qua. Nhưng tớ còn ở lại. Tớ có vài việc cần tìm hiểu thêm.
- Ồ, vậy thì hay quá. Chúng ta lại có dịp gặp nhau.
Trong đầu tôi rủa thầm, nhưng vẫn phải làm ra vui vẻ, R.C cũng hớn hở nói:
- Ồ, đúng vậy. Bảo đảm là chúng ta sẽ còn gặp nhau dài dài.
- Tạm biệt.
- Tạm biệt.
Sam gọi theo tôi:
- Chờ chút. Mình đi với cậu.
- Thôi, mai hãy tới. Mình còn phải nghe câu trả lời của ông Cao về vấn đề của cậu đã chứ.
Chào.
Tôi bước vội đi trước khi hai người dó chưa kịp nói thêm câu nào.
Lúc đầu sự quan tâm của R.C về việc thiếu hụt bầy gia súc làm tôi lo ngại, nhưng càng về gần tới trại, tôi càng bình tĩnh hơn. Ông ta chỉ là một người bình thường vô hại, còn chúng tôi: những nhân viên trong Gánh Xiếc Quái Dị, đều là những người khác thường, kỳ lạ, mạnh mẽ. Liệu ông ta có thể làm gì hại được chúng tôi?
CHƯƠNG HAI MƯƠI BA
Tôi định đến thẳng xe ông Cao, báo với ông về sự nghi ngờ và những thắc mắc của R.C.
Nhưng trên đường đi, Truska (cô gái có khả năng mọc râu theo ý muốn) kéo cánh tay tôi và ra dấu cho tôi đi theo.
Lều cô ta trang trí loè loẹt nhất trại. Tranh ảnh, gương soi treo đầy trên vách. Mấy tủ áo lớn, bàn trang điểm và một cái giường rộng mênh mông.
Sau một tràng líu lo thứ tiếng lạ tai, cô ta lấy một thước vải, đo thân thể tôi, rồi chu miệng
nghĩ ngợi. Búng ngón tay tách một tiếng, cô tiến lại tủ áo, lôi ra một cái quần, mở tủ khác
lấy ra cái áo, và rút một áo vét từ một tủ khác nữa. Mở ngăn kéo bàn trang điểm, Truska lấy ra mấy bộ đồ lót và một đôi giày.
Tôi vào sau một tấm màn lụa thay quần áo. Chắc Evra đã nói với cô ta về việc tôi ước ao một bộ đồ mới.
Tôi vừa bước ra, Truska vỗ tay mừng rỡ và đẩy tôi đến trước tấm gương. Bộ quần áo vừa như in. Và điều làm tôi bàng hoàng nhất là: trông tôi... hơi bị bảnh trai. Cái sơ mi màu xanh lá nhạt, quần tía sẫm, áo vét pha hai màu xanh dương và vàng đồng. Truska còn cuốn quanh bụng tôi bằng một dải lụa đỏ. Trông tôi y hệt một tên cướp biển. Tôi bảo:
- Tuyệt vời. Chỉ đôi giày là hơi bị chật.
Truska đem ngay ra một đôi khác, da mềm hơn và mũi cong như giày của chàng thuỷ thủ
Sinbad. Tôi cám ơn Truska và định bước ra khỏi lều. Cô giang tay ngăn lại, kéo một chiếc
ghế tới trước một tủ áo, đứng lên, với tay lấy xuống một hộp tròn lớn. Truska mở hộp, lôi
ra một mũ nhỏ màu nâu, có đính lông chim; loại mũ hiệp sĩ rừng xanh Robin Hood vẫn đội.
Chưa kịp đội mũ lên đầu, Truska ấn tôi ngồi xuống ghế, cầm kéo lên cắt tóc cho tôi.
Mái tóc mới cắt và cái mũ hiệp sĩ rừng xanh làm tôi không nhận ra mình trong gương nữa. Tôi kêu lên:
- Ôi! Truska, tôi... tôi...
Không thể tìm ra lời cám ơn, tôi ôm choàng lấy Truska, hôn một cái rõ kêu lên má cô. Khi buông tay ra tôi bỗng ngượng chín cả người. May mà không có thằng bạn nào của tôi trông thấy cảnh này. Trong khi đó Truska cứ mủm mỉm cười duyên.
Tôi vội chạy đi khoe Evra. Nó bảo trông tôi rất sành điệu, nhưng thề sống thề chết là chẳng hề nói gì với Truska về chuyện quần áo của tôi, chắc chỉ vì cô ta phát hiện thấy tôi ăn mặc gớm ghiếc quá, hay do ông Crepsley nhờ, hoặc vì cô ta... si tôi.
Nghe nó tán nhảm, tôi đỏ mặt quát lên:
- Đừng nói bậy.
Nó cứ nham nhở ngân nga:
- Bà con ơi! Truska mê tít Darren! Mê tít thò lò cu cậu Darren!
- Câm đi. Con rắn gầy tong gầy teo kia.
Nó cười ngặt nghẽo, tiếp tục làm trò:
- Anh ả ngồi trên cành cây. Hôn nhau hứa hẹn có ngày cưới nhau. Xe hoa của ma-cà-rồng. Bay trên mặt đất khỏi cần ét -xăng.
Tôi nổi sùng, gầm lên, nhào vào vật nó xuống đất. Khoá cứng không cho cu cậu nhúc nhích, cho đến khi nó hét ầm lên đầu hàng mới buông tha.
Sau đó, Evra vào lều săn sóc con rắn của nó. Tôi vừa làm việc của mình vừa lãnh luôn phần
việc của Evra. Một phần vì bận rộn như thế, một phần vì phấn khởi với bộ đồ mới, tôi
quên khuấy chuyện báo cho ông Cao biết vụ chiến sĩ bảo vệ môi trường hăm doạ điều tra
chuyện bò dê.
Nếu không quá đãng trí như thế, có lẽ mọi chuyện đã khác và nơi ở của chúng tôi có lẽ đã không phải kết thúc trong máu và nước mắt.
CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN
Cả ngày làm việc quần quật, trời vừa sụp tối, tôi đã buồn ngủ rũ. Evra cho tôi biết không
thể ngủ cùng lều đêm nay, vì cô nàng rắn đang cảm cúm, tính nết rất khó chịu, buồn buồn
ngoặm cho tôi một phát thì nguy. Vì vậy, tôi vào lều của ông Crepslay, trải đồ ngủ bên lồng
quý bà Octa.
Chỉ vài phút sau, tôi đã ngủ li bì. Rồi trong khi đang nằm mơ, bỗng có ai đó nắm cổ họng tôi, cạy miệng tôi ra. Tôi bật ho, choàng tỉnh.
Một bóng người lù lù trước mặt, tay cầm một chai nhỏ, cố đổ một chất lỏng vào miệng tôi. Thoạt đầu, tôi khiếp đảm tưởng là lão Tí-nị.
Tôi cắn đầu chai, rách cả môi, làm đổ gần hết chất lỏng trong chai. Người đó vừa **** vừa cạy hàm tôi ra, cố đổ chút còn lại vào miệng, nhưng tôi cũng cố phun ra hết.
Người đó rủa lớn buông tôi ra, lúc này tôi mới nhìn rõ: đó chính là ông Crepslay. Tức giận tôi hét toáng lên:
- Ông làm trò khỉ gì vậy?
Càng tức thêm vì mở miệng nói, tôi cảm thấy môi đau rát.
Ông đưa cho tôi nhìn cái chai còn dính chút chất lỏng màu đỏ. Tôi giận đến nghẹn thở:
- Ông định ép tôi uống thứ đó sao?
- Cháu phải uống. Darren, cháu đang kiệt sức dần. Nếu cứ bướng bỉnh thế này, chỉ trong vòng một tuần nữa, cháu sẽ chết mất.
Tôi nhìn ông ta trừng trừng, làm ông ngại ngùng quay mặt đi, nói:
- Ta chỉ cố gắng giúp cháu thôi.
- Nếu ông còn làm thế một lần nữa, tôi sẽ giết ông.
Có thể ông ta nhận ra tôi nói rất nghiêm túc, nên gật đầu, rầu rầu bảo:
- Được, ta sẽ không bao giờ làm thế nữa. Nhưng phải chi cháu chịu khó uống chút xíu thôi, cháu sẽ khoẻ lại, và sẽ quen dần, không cảm thấy sợ nữa.
Tôi gào lên:
- Không bao giờ tôi nếm vào thứ đó. Dù có phải chết, tôi cũng không bao giờ uống.
- Tốt thôi. Ta đã làm hết sức mình. Nếu mi muốn sống như một thằng ngu thì tuỳ.
- Không uống, không phải vì ngu. Nhưng vì tôi là một con người.
- Mi không còn là người nữa.
- Tôi biết. Nhưng tôi muốn làm người. Tôi muốn được như Sam. Tôi muốn có một gia đình và những người bạn bình thường. Tôi muốn mình lớn lên ở mức độ bình thường như họ. Tôi không muốn dùng máu người làm lương thực nuôi sống mình, sợ hãi mặt trời và những người săn lùng ma-cà-rồng.
- Thế thì quá tệ, vì tay mi đã nhúng chàm rồi.
- Tôi căm ghét ông.
- Lại càng tệ hơn, vì mi đã gắn liền với ta. Đáp lại lòng căm ghét của mi, ta cũng không còn quá nhiều tình cảm dành cho mi nữa. Làm mi trở thành một nửa ma-cà-rồng là một sai lầm tệ hại nhất trong đời ta.
- Vậy thì sao ông không trả tự do cho tôi.
- Không thể. Nếu làm được ta đã làm rồi. Tuy nhiên, ta để mi hoàn toàn tự do muốn rời bỏ ta lúc nào cũng được.
- Ông nói thật chứ?
- Rất thật. Ta còn mong điều đó, vì ta sẽ không khổ tâm khi phải nhìn mi chết.
- Thật tình tôi chẳng hiểu ông ra sao nữa.
Tôi lắc đầu nói. Mỉm cười, gần như rất hiền hoà, Crepslay bảo:
- Chính ta cũng chẳng hiểu nổi mình.
Chúng tôi phì cười, mọi chuyện trở lại bình thường. Dù không thích việc ông ta vừa làm, nhưng tôi có thể hiểu vì sao ông ta đã cố ép tôi như thế: vì ông sợ tôi chết. Bạn không thể thật sự ghét người hết lòng lo cho bạn, đúng không?
Tôi kể cho ông nghe những việc trong ngày: chơi cùng Sam trong khu nhà ga, chuyện Sam cứu tôi, chuyện tôi từ chối cắt máu ăn thề kết nghĩa huynh đệ với nó.
Ông Crepslay bảo:
- Cháu làm vậy là rất tốt.
- Nếu cháu cắt máu ăn thề với nó thì có sao không?
- Máu của nó sẽ bị biến chất. Nó sẽ thèm thịt sống, loanh quanh gần mấy quầy bán thịt, mất thòm thèm hau háu nhìn những tảng thịt tươi. Nó sẽ chậm già hơn những người bình
thường. Không thay đổi quá nhiều, nhưng có thay đổi.
- Thay đổi như thế nào?
- Nó sẽ hoá rồ, vì không biết chuyện gì đang xảy ra. Sam tưởng mình là ma quỷ, vì không
biết điều gì làm sinh hoạt của nó thay đổi như thế. Trong vòng mười năm, nó sẽ hoàn toàn
bị suy sụp.
Tôi rùng mình, khi nghĩ, suýt chút nữa tôi đã huỷ hoại đời Sam. Những chuyện như thế này, càng làm tôi phải gắn bó với ông Crepslay hơn, để học hỏi tất những điều cần thiết của một ma-cà-rồng nửa mùa. Tôi hỏi:
- Ông thấy Sam thế nào?
- Nó thường đến ban ngày, nên ta chưa gặp nhiều. Nhưng nó có vẻ đàng hoàng, lanh lợi.
- Nó vẫn phụ giúp cháu và Evra.
- Ta biết.
- Nó chăm chỉ lắm.
- Ta có nghe nói.
Tôi ngập ngừng bảo:
- Nó muốn gia nhập gánh xiếc. Cháu đã định nói với ông Cao, nhưng rồi lại quên. Mai cháu sẽ nói. Chẳng biết ông Cao có đồng ý không?
Mặt Crepslay tối lại:
- Ông Cao sẽ bảo cháu phải hỏi ý ta. Trẻ con không được phép gia nhập xiếc quái dị, trừ khi có người bảo lãnh.
- Cháu bảo lãnh cho nó.
- Cháu chưa đủ tuổi. Chỉ có thể là ta, nhưng ta sẽ không làm.
- Vì sao?
- Vì ta chưa điên. Một ông nhóc ta đủ phát khùng rồi, thêm thằng nữa, ta chịu không nổi.
Hơn nữa nó là người. Ta gắn bó với cháu, vì trong huyết quản của cháu có dòng máu của ta. Lý do gì ta lại đâm đầu vào tròng với một con người khác nữa?
- Vì nó là bạn cháu. Nó sẽ chơi đùa với cháu.
- Có quý bà Octa làm bạn đủ rồi.
- Làm sao so sánh như thế được?
- Này, cho ta biết: chuyện gì sẽ xảy ra khi nó biết cháu là ma-cà-rồng? Cháu nghĩ nó sẽ thông
cảm sao? Nó sẽ yên giấc khi biết thằng bạn thân nhất chẳng mong gì hơn là cắt cổ nó hút
máu sao?
Tôi hét lớn:
- Cháu sẽ không làm thế.
- Ta biết. Nhưng là một ma-cà-rồng, ta biết cháu thật sự như thế nào. Ông Cao, Evra và những thành viên trong đoàn hiểu cháu. Nhưng thử nghĩ xem, một người bình thường như Sam, sẽ nhìn cháu như thế nào?
Tôi buồn rầu thở dài:
- Nghĩa là ông không chấp nhận nó?
Ông Crepslay lắc đầu lia lịa, rồi ngừng lại ngó tôi, ngẫm nghĩ. Sau cùng ông nhẹ gật đầu:
- Thôi được, ta chấp nhận.
Tôi bàng hoàng, không ngờ ông ta đồng ý. Tôi e dè hỏi lại:
- Sam được vào đoàn?
- Phải, nó có thể vào đoàn, đi lưu diễn cùng chúng ta, giúp đỡ cháu và Evra. Nhưng với một điều kiện...
- Nó cũng sẽ trở thành một nửa ma-cà-rồng như cháu.
CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM
Sáng sớm hôm sau, nhìn Sam hớn hở chạy vào trại, tim tôi thót lại. Tôi không muốn làm nó thất vọng, nhưng không còn cách nào khác nữa. Tôi không thể cho nó biết chuyện ông
Crepslay muốn biến nó thành một ma-cà-rồng nửa mùa như tôi.
Suốt đêm qua tôi đã suy nghĩ, và điều làm tôi hoảng nhất là : Sam sẽ chẳng ngần ngại gì với đề nghị của ông ta. Dù nó thông minh, nhưng tôi nghĩ nó không đủ chín chắn để cân nhắc đến nỗi cô đơn và những khốn khổ khi trở thành một ma-cà-rồng.
Quá nóng ruột, Sam chẳng thèm nhòm ngó gì đến bộ đồ xịn của tôi, nó hỏi ngay:
- Sao?
- Rất tiếc, Sam. Ông ta từ chối.
Nó nói như quát vào mặt tôi:
- Tại sao?
- Cậu còn nhỏ quá.
- Mốc xì. Cậu lớn hơn tớ bao nhiêu? Tôi nói dối:
- Nhưng mình không cha mẹ, chẳng ai kiện cáo gì khi mình đi theo gánh xiếc.
- Mình cóc cần gia đình
- Dóc. Rồi cậu sẽ nhớ nhà.
- Những ngày nghỉ mình về thăm nhà.
- Bộ dễ lắm hả. Dính vào gánh xiếc quái dị thì đi mút mùa luôn. Thì giờ đâu mà về. Thôi, chờ khi nào cậu lớn hãy tính
- Tớ cóc cần cái “khi nào” của cậu. Tớ muốn ngay bây giờ. Tớ sẽ làm việc cật lực. Tớ sẽ tự chứng tỏ cho họ biết. À, cậu có nói với ông Cao, hôm qua mình đã im lặng khi nghe cậu nói xạo về chuyện người sói không?
- Mình đã kể tất cả mọi chuyện với ông ấy.
- Tớ cóc tin. Cậu chưa gặp chưa nói cóc khô gì với ông ta hết. Tớ sẽ tự đi gặp. Tôi nhún vai chỉ về xe ông Cao:
- Đó lại đó mà gặp.
Nhưng mới bước được mấy bước, nó ngừng lại, bực dọc thọc mấy ngón chân xuống cát, rồi quay lại ngồi bên tôi. Nước mắt đầm đìa trên má, nó lèm bèm:
- Thật bất công. Mình đã lên hẳn một kế hoạch khi được họ thu nhận. Vậy mà...
- Còn nhiều dịp khác nữa mà...
- Bao giờ? Bao giờ mình mới gặp lại họ? Đây là lần đầu tiên mình biết đến một gánh xiếc
quái dị.
Im lặng một lúc tôi mới nói:
- Chẳng thú vị như cậu tưởng đâu. Thử nghĩ, phải thức dậy từ năm giờ sáng giữa mùa đông,
tắm rửa bằng nước lạnh như băng, làm việc ngoài trời dưới những ngọn gió giá rét như dao
cắt...
- Chuyện nhỏ, mình cóc ngán. Hay là... mình cứ đi. Trốn trong mấy xe tải, khi phát hiện, ông Cao đành phải chấp nhận thôi.
- Cậu không được làm thế.
- Tớ cứ làm. Cậu không cản được đâu.
- Mình sẽ không để cậu làm thế.
- Bằng cách nào?
Đã đến lúc phải bịa ra một chuyện thật khủng khiếp để hù Sam, làm nó sợ đến nỗi không
nuôi mộng viển vông theo chúng tôi nữa. Tôi thì thầm như khổ tâm phải cho nó biết sự thật:
- Sam, mình chưa nói cho cậu biết, trước khi gia nhập gánh xiếc mình đã hành động thế nào với cha mẹ mình phải không?
- Chưa, nhiều khi mình cũng định hỏi.
- Mình đã giết...
Mặt nó trắng nhợt:
- Hả? Cái gì?
- Thỉnh thoảng mình lên cơn điên, như Người-sói vậy. Không ai hiểu vì sao, và lúc nào mình
lên cơn. Ngày bé, mình ở trong bệnh viện và đỡ điên dần. Một lễ giáng sinh, ba má đưa mình về nhà. Sau bữa ăn tối, đang ngồi kéo mấy ống pháo nổ với ba. Mình lên cơn. Xé ông ta ra từng mảnh. Má nhào vào can, mình xé luôn bà, rồi đến em gái mình..., sau đó...
Phải diễn đoạn này tuyệt vời cho cu cậu tin v-ãi tè luôn. Hai mắt long sòng sọc, tôi nhìn xoáy vào mắt nó, như đang lên cơn:
- Mình ăn thịt cả ba người.
Mồm há hốc, mắt nó nhìn tôi như đứng tròng, nhưng vẫn cố lắp bắp:
- Cóc...cóc...phải. Cậu phịa.
- Ăn thịt họ xong mình chạy trốn. Gặp ông Cao, ông ta đồng ý che giấu mình. Trong đoàn có
sẵn một cái chuồng để nhốt, khi mình lên cơn. Điều nguy hiểm là không ai biết trước khi
nào mình hoá điên như thế. Vì lí do đó mọi người lảng tránh mình. Evra và những quái nhân
thì không sao, vì họ mạnh lắm, nhưng những người khác thì mình có thể “xực” họ trong
nháy mắt.
Tôi nhặt một cành cây lớn, múa may một lát, rồi bỏ vào miệng nhai rau ráu như nhai một củ cà rốt.
- Mình có thể nhai nát xương cậu rồi phun ra như... cám.
Tôi cắt môi bằng cành cây gãy, máu me tùm lum làm Sam xanh mặt.
- Nếu cậu gia nhập đoàn, cậu phải ngủ cùng lều với tớ, có thể cậu sẽ là người đầu tiên làm mồi cho tớ nhắm. Cậu không thể nào ngăn được chuyện đó đâu. Đừng theo gánh xiếc này. Mình thèm có bạn lắm, nhưng mình xin cậu tránh xa nơi này ra.
Sam cố mở miệng mà không được. Nó tin tất cả câu chuyện “bịa đặt trời ơi đất hỡi” của
tôi. Từng xem những màn biểu diễn của gánh xiếc quái dị, nó tin chuyện tôi nói rất có thể
xảy ra.
Tôi buồn rầu diễn tiếp:
- Đi đi Sam. Đừng bao giờ trở lại, như vậy sẽ an toàn cho cả hai đứa mình. Nó liên tục lắc đầu:
- Darren, mình... mình...
- ĐI!
Tôi gầm lên, hai tay đấm thình thình lên đất, răng nhe ra, gầm gừ. Tôi có khả năng làm cho giọng trầm vang hơn con người, giống như dã thú.
Sam rú lên, nhảy qua những hàng cây, cắm đầu chạy.
Nhìn theo nó, tim tôi nặng nề, khốn khổ. Nó sẽ không bao giờ trở lại. Chúng tôi đã rẽ hai ngả đường khác nhau và chẳng bao giờ còn gặp lại nhau nữa.
Nếu biết mình đã sai lầm thế nào - nếu biết trước cái đêm khủng khiếp đang chờ phía trước - thì tôi đã chạy theo nó và không bao giờ quay trở lại gánh xiếc điên rồ đẫm máu, gánh xiếc kinh hoàng của tử thần này nữa.
CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU
Đang quét dọn, thì môt tên tí-hon trong bộ áo choàng xanh trùm đầu đến vỗ lưng tôi. Đó là anh (hay ả) có một chân cà thọt. Tôi hỏi:
- Chuyện gì?
Nó lẳng lặng xoa bụng. Đó là dấu hiệu đói rồi. Tôi bảo:
- Chưa đến giờ ăn đâu.
Tôi nói gì thì nói, nó cứ đứng ì ra đó mà xoa bụng. Tôi biết, màn này sẽ kéo dài hàng giờ, cho tới khi tôi đồng ý đi kiếm đồ ăn về cho nó. Tôi chịu thua, bảo:
- Thôi được rồi, để tớ đi săn. Nhưng hôm nay chỉ có mình tớ, đừng mong có thể ních đầy bụng như mọi khi. Hiểu không?
Nó lại xoa bụng. Bó tay luôn.
Tôi cảm thấy rất yếu, đáng lẽ hôm nay không nên đi săn bắt gì. Tôi vẫn có thể chạy nhanh hơn người bình thường, mạnh hơn những đứa cùng tuổi, nhưng sức lực này không còn bền nữa. Ông Crepsley đã bảo tôi sẽ chết trong vòng một tuần, nếu nhất định không uống “thuỷ ngân đỏ”. Tôi biết ông ta nói thật, vì tự cảm thấy sức lực đang cạn kiệt dần. Chỉ vài ngày nữa thôi, tôi sẽ không còn đủ sức ra khỏi giường.
Mệt nhoài người, mồ hôi như tắm, tôi cũng không bắt được con thỏ nào. Tôi lần mò ra
đường, hy vọng kiếm được con vật lớ ngớ nào bị xe cán chết. Nhưng cũng chẳng có con thú nào xấu số cả. Vừa mệt vừa lo phải trở về tay trắng (tên Tí-hon rất có thể xực tôi vì tính bẳn đói). Tôi đành tiến bước về cánh đồng thả cừu.
Quá quen với người, bầy cừu thản nhiên ăn cỏ khi tôi lại gần. Tôi tìm một con già yếu và
phát hiện ra một con gầy trơ xương, bốn chân run rẩy, mắt lờ đờ. Trông nó như sắp chết
tới nơi.
Nếu còn đủ sức lực, tôi hoá kiếp con vật này trong tích tắc. Nhưng vì quá yếu, nên nó thoát khỏi tay tôi, be be kêu thật thê thảm, nhưng nó cũng yếu đến nỗi không còn đứng nổi, lăn đùng trên mặt đất.
Tôi vơ cục đá, đập mạnh lên đầu nó. Thật đáng hổ thẹn khi giết một con vật đáng thương như thế.
Kéo lê con cừu đến gần hàng rào, tôi chợt thấy một bóng người đang đứng trên mấy cọc rào. Đinh ninh đã bị một bác nông dân bắt quả tang, tôi buông vội con cừu, ngước nhìn.
Không phải một nông dân mà chính là R.C - người chiến sĩ bảo vệ thiên nhiên. Ông ta quát như sấm nổ:
- Tại sao mi có thể hành động như thế chứ? Giết một con vật đáng thương, vô tội một cách
*** như vậy?
- Tôi muốn giết nó một cách nhẹ nhàng hơn, nhưng tôi không còn sức nữa. Ông cũng thấy
đó, dù tôi để nó chạy, nó cũng không còn đi nổi nữa. Thà giết nó, còn hơn để nó đau đớn thế.
- Mày khéo nguỵ biện lắm. Chắc phải được giải Nobel vì tài ăn nói đấy.
- Tôi xin ông mà R.C. Trước sau gì thì con cừu này cũng sẽ bị làm thịt thôi.
- Không thể nói như vậy được. Không chỉ vì người khác độc ác, mi cũng có quyền làm ác.
- Làm thịt một con cừu có gì là độc ác? Nó là loài vật để người ta ăn thịt mà.
- Tại sao không ăn chay? Ăn rau không được sao? Như chúng ta đó, chúng ta đâu cần thịt?
- Có người không ăn thịt, nhưng cũng có người cần có thịt mới sống được.
- Vậy thì cứ để cho những kẻ cần ăn thịt đó chết quách cho rồi. Con cừu đó có làm gì hại ai
đâu. Với ta, giết nó còn tồi tệ hơn cả giết người. Mày là một tên sát nhân, Darren Shan.
Tôi rầu rĩ lắc đầu. Không thể nói chuyện phải quấy với một người cố chấp như R.C. Ông ta nhìn thế giới khác với nhiều người trong chúng ta. Tôi bảo:
- Ông nghe đây. Tôi chẳng thích thú gì chuyện sát hại loài vật. Nhưng không phải cả thế giới
này đều ăn chay. Con người ăn thịt để sống, đó là một sự thật. Tôi chỉ làm việc phải làm mà
thôi
- Tốt thôi. Mày lẻo mép lắm. Để cảnh sát trả lời mày.
- Cảnh sát? Cảnh sát dính dáng gì vào chuyện này?
- Sao không? Mày giết gia súc của người khác. Hà hà, tưởng dễ thoát tội lắm à? Mi không bị
kết tội giết thỏ hay giết chồn - dù chúng cũng đều là những con vật đáng thương - nhưng
giết cừu của nhà nông thì lại khác. Ta sẽ báo cảnh sát và thanh tra vệ sinh đến làm việc với
mi.
- Ông sẽ không làm vậy, vì ông không ưa gì cảnh sát. Các ông vẫn chống đối họ mà.
- Khi phải chống thì chống, nhưng khi cần thì ta đứng về phe họ. Ha ha ha, cảnh sát bắt mi trước, rồi sẽ xới tung cái trại xiếc của mi lên. Ta đã theo dõi những chuyện xảy ra tại đó, đã thấy tụi mi đối xử thế nào với con người lông lá kia...
- Người-sói?
- Đúng. Giam *** người ta trong chuồng như một con thú.
- Nhưng thật sự đó là một con thú.
- Không, chính mi mới là loài thú.
- Ông R.C. Không cần phải gay go. Hãy đến trại với tôi, nói chuyện với ông Cao và mọi người ở đó. Ông sẽ thấy rõ hơn chúng tôi sống với nhau như thế nào...
- Để những chuyện đó mà nói với cảnh sát. Không gì có thể ngăn cản ta đâu.
Tôi thở dài. Dù rất mến R.C, nhưng tôi không thể để ông ta phá hoại gánh xiếc. Tôi bảo:
- Tốt. Nếu lời nói không ngăn được ông, hãy xem những gì tôi làm đây.
Gom hết sức lực còn lại, tôi quăng mạnh xác con cừu ngay ngực R.C. Ông ta lộn nhào khỏi hàng rào. Thét lên vì kinh ngạc và tiếng thét thứ hai vì đau, khi thân hình nặng nề của ông ta rơi bịch trên nền đất.
Tôi nhảy tới, đè lên ông ta. R.C hổn hển hỏi:
- Làm cách nào mi làm được như vậy?
- Không quan trọng.
- Sao không? Một thằng nhóc mà ném được cả một con cừu như thế. Làm sao...
- Im ngay.
Tôi quát. Ông ta hoảng hốt nhìn tôi trừng trừng. Tôi gọi cái tên ông ta vẫn ghét:
- Reggie Chay, nghe cho rõ đây. Ông không nên báo cảnh sát hay bất cứ cơ quan nào. Vì nếu
ông làm trái ý tôi, thì hôm nay, con cừu sẽ không là cái xác độc nhất tôi kéo về trại xiếc quái
dị đâu.
- Mi là ai? Là cái... cái gì?
Giọng ông ta run rẩy, hai mắt đầy khiếp đảm. Tôi xoè móng tay dí sát mặt ông ta:
- Tôi là kẻ chấm dứt đời ông, nếu ông phản tôi. Đi khỏi đây đi, Reggie. Đi tìm những người bạn bảo vệ thiên nhiên của ông. Hãy gắn bó với việc chống mở đường làm hỏng thiên nhiên. Tôi và những người bạn trong gánh xiếc - toàn là những quái nhân - không chấp nhận cùng luật pháp với những người khác đâu. Ông hiểu chứ?
- Mi điên rồi.
Tôi đứng dậy, vắt con cừu ngang vai:
- Đúng vậy, nhưng không điên bằng ông, nếu ông ở lại và can thiệp vào công việc của chúng tôi. Tuy nhiên, ông báo cảnh sát cũng chẳng ích lợi gì đâu. Vì khi họ tới, từ xương tới thịt con vật này đã biến hết rồi. Đi hay ở, im lặng hay báo cảnh sát, tuỳ ông. Lời nói cuối cùng của tôi là: Với tôi và đồng loại của tôi, ông và con cừu này chẳng khác gì nhau đâu. Việc giết ông với chúng tôi cũng như giết mấy con cừu trên đồng cỏ kia thôi.
R.C nói không ra lời:
- Mi là quái vật.
- Đúng, nhưng mới chỉ là quái vật nhí thôi. Nếu muốn, ông nên đụng độ với quái vật hàng
xịn kia.
Tôi méo miệng cười thật ghê sợ, cảm thấy xấu hổ vì trò bi ổi này, nhưng cũng biết không còn cách nào khác nữa. Tôi bước đi, nói:
- Tạm biệt Reggie Chay.
Không cần ngoái lại nhìn. Suốt đoạn đường về trại, tôi còn như nghe tiếng răng ông ta va vào nhau lộp cộp vì quá khiếp đảm.
CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY
Lần này tôi đến thẳng ông Cao, kể lại tất cả về R.C. Ông chăm chú lắng nghe, rồi bảo:
- Cháu đã hành động đúng.
- Vì tình thế bắt buộc thôi. Cháu chẳng hãnh diện vì trò hù doạ ông ta chút nào.
- Đáng lý ra, cháu phải giết hắn. Như vậy hắn mới không thể làm gì hại chúng ta được nữa.
- Cháu không phải kẻ giết người.
Ông Cao thở dài:
- Ta biết. Ta cũng vậy. Nhưng phải chi đám Tí-hon đi cùng cháu, chúng chặt hắn ta rụng đầu
ngay.
- Bây giờ chúng ta phải làm gì?
- Ta nghĩ, hắn quá sợ, không dám báo cảnh sát đâu. Kể cả nếu hắn làm như thế, cũng không có chứng cứ gì để kết tội cháu. Có thể sẽ hơi rắc rối, nhưng ta có nhiều mối liên hệ với chính quyền, cháu đừng lo.
- Cháu ngại nhất là những quan chức của Sở Y Tế. Một khi họ đánh hơi ra chuyện gì, họ truy lùng tới cùng.
- Nếu họ đến đây, sớm nhất cũng phải là sáng mai. Ngay sau buổi diễn đêm nay, chúng ta sẽ nhổ trại, rời khỏi đây trước khi họ đến.
- Ông không giận cháu chứ?
- Không. Đây không phải lần đầu chúng ta đụng chạm với nhà nước. Cháu có gì đáng trách
đâu.
Ông Cao sai tôi thông báo cho mọi người biết việc di dời. Hầu hết đều vui mừng thu dọn hành trang.
Lại thêm một ngày bận rộn với tôi. Vì tôi có trách nhiệm sửa soạn cho buổi diễn, cũng như
thu xếp mọi thứ cho chuyến đi. Định vào giúp Truska, nhưng tôi thấy lều của cô ta đã trống
trơn. Truska chỉ nháy mắt khi tôi hỏi cô ta làm cách nào mà thu xếp quá nhanh như vậy.
Ông Crepsley không hề tỏ ra ngạc nhiên khi thức dậy và nghe tôi báo về chuyện nhổ trại. Ông bảo:
- Cũng phải. Chúng ta ở lại đây quá lâu rồi.
- Cháu xin vắng mặt đêm nay. Cháu mệt quá, muốn đi ngủ sớm.
- Chỉ một điều làm cháu khoẻ lại. Cháu biết phải làm gì, nhưng cháu không chịu nghe ta.
Đêm xuống dần, sắp tới giờ trình diễn. Những đám đông nườm nượp kéo tới. Từ hai ngả đương, xe cộ nối đuôi nhau. Nhân viên trong đoàn tất bật sửa soạn: người xếp đặt ghế, kẻ chờ ra sân khấu... Chỉ tôi và Evra là hai tên thất nghiệp. Nó cũng được nghỉ diễn đêm nay, vì con rắn chưa hết bệnh.
Chúng tôi đứng sau cánh gà nghe ông Cao giới thiệu Người-sói, rồi xem thêm mấy màn cho đến giờ giải lao đầu tiên.
Evra rủ tôi lang thang ra ngoài ngắm sao. Nó bảo:
- Mình sẽ nhớ nơi này. Mình thích cảnh quê lắm. Ở thành phố làm gì có cả một trời sao rực rỡ như thế này.
- Không ngờ cậu bé rắn lại rành cả thiên văn đấy.
- Đâu có. Mình chỉ mê ngắm sao thôi.
Tôi chóng mặt đến phải ngồi vội xuống. Evra áy náy:
- Cậu không được khoẻ, phải không? Cậu vẫn không chịu uống thứ đó? Tôi lắc đầu. Nó ngồi xuống bên tôi, ân cần hỏi:
- Vì sao? Có khác gì máu các động vật đâu?
- Mình không hiểu vì sao, nhưng mình không thể. Mình sợ sẽ thành quỷ khi làm như thế. Dù ông Crepsley bảo ma-cà-rồng không phải là quỷ, nhưng mình nghĩ ngược lại. Mình nghĩ, kẻ nào coi con người như loài vật, kẻ đó chính là quỷ...
- Nhưng nếu không uống cậu sẽ bị chết thì sao?
- Dù mình thề chỉ uống đủ để sống, nhưng chuyện gì sẽ xảy ra, nếu mình không còn tự chủ được nữa? Chuyện gì sẽ xảy ra khi mình lớn lên? Khi nhu cầu đòi hỏi nhiều hơn, mình gây ra cái chết cho ai đó thì sao?
- Mình nghĩ cậu sẽ không bao giờ có hành động như vậy. Cậu không phải là quỷ, Darren. Một người tốt không thể là quỷ được. Chừng nào cậu còn coi máu người như là một thứ thuốc, thì đâu có vấn đề gì?
Tôi không tin tưởng những gì nó nói, nhưng vẫn bảo:
- Có thể. Nhưng lúc này mình cảm thấy rất yên tâm. Vài ngày nữa thôi, mình sẽ không con phải phân vân quyết định việc gì nữa.
- Thật sự cậu thà chết chứ không chịu uống sao?
- Mình không biết.
Tôi thành thật trả lời. Evra buồn rầu nói:
- Nếu cậu chết, mình sẽ nhớ lắm. Tôi xúc động nhìn Evra:
- Ồ, chắc không đến nỗi đó đâu. Có thể còn cách để mình sống chứ. Chắc còn một cách mà ông Crepsley sẽ nói ra khi không còn lựa chọn nào khác nữa.
Evra ậm ừ. Nó cũng như tôi đều biết rõ là chẳng còn cách nào khác nữa hết. Nó bảo:
- Mình vào xem con rắn ra sao. Cậu vào với tụi mình một lát không?
- Không. Mình đi ngủ, mệt quá đi, mà mai chúng ta lại phải dậy sớm.
Chúng tôi chúc nhau ngủ ngon rồi chia tay. Nhưng thay vì đi ngay về lều ông Crepsley, tôi di
lòng vòng quanh trại, suy nghĩ về những gì chúng tôi vừa nói với nhau. Tôi tự hỏi cảm giác
chết sẽ như thế nào. Vì trước đây tôi đã “chết” và được chôn một lần rồi. Nhưng không
giống như lần này. Nếu tôi chết thật sự, tôi sẽ chết rất thanh thản. Rồi thịt da tôi sẽ thối
rữa và...
Ngước nhìn những vì sao. Đó là nơi tôi sẽ tới? Tới bên kia vũ trụ? Nơi có cõi bồng lai của ma-cà-rồng?
Ngày còn sống dưới mái gia đình, chẳng khi nào tôi nghĩ đến cái chết, chuyện đó chỉ dành cho những người già. Nhưng lúc này, tôi đang đứng đây, một mình đối diện với điều đó. Thay vì tất bật với chuyện trường lớp bóng đá; tôi lại phải lo âu chuyện nên uống “thuỷ ngân đỏ” hay là chết! Thật quá bất công. Tôi còn quá nhỏ mà phải chịu đựng...
Tôi không quan tâm khi chợt nhìn thấy bóng người thấp thoáng ngoài lều, cho đến khi nghe tiếng một vật bị gãy, gọn và sắc. Mọi người trong đoàn đều bận rộn trong lều trình diễn. Ai vậy? Hay một khán giả loạng quạng lạc đường vào đây?
Tôi lần theo. Qua mấy chỗ rẽ, tôi gần mất hút người đó, bỗng lại nghe thấy tiếng nhai rau ráu rất gần. Nhìn quanh, tôi nhận ra ngay tiếng nhai phát ra từ chuồng Người-sói.
Hít mấy hơi thật sâu để lấy tinh thần, tôi chạy gấp đến...
CHƯƠNG HAI MƯƠI TÁM
Nhờ cỏ ẩm ướt nên bước chân tôi không gây ra tiếng động. Tới chiếc xe tải cuối cùng, đậu trước chuồng Người-sói, tôi dừng lại nghe ngóng.
Tiếng lanh canh nho nhỏ, như những sợi xích nặng nề nhè nhẹ chạm nhau.
Tôi bước hẳn ra khỏi tầm khuất của cái xe. Ánh sáng lờ mờ quanh chuồng, đủ để tôi nhìn rõ ràng từng chi tiết. Chuồng Người-sói đã được đẩy về đây sau buổi diễn. Và cũng như hằng đêm, một tảng thịt đã được bỏ vào chuồng. Nhưng đêm nay nó không ăn. Đêm nay nó đang chăm chú vào một thứ khác...
Một người đàn ông to lớn đang ngồi trước cửa chuồng, tay cầm một cái kỳm lớn và đã cắt được mấy mắt xích ràng chặt cửa chuồng.
Tôi kêu lên:
- Làm gì vậy?
Người đó giật mình, buông rơi cây kỳm, quay lại. Đúng như tôi đoán, đó là R.C.
Lúc đầu hơi hoảng, nhưng thấy tôi có một mình, ông ta bình tĩnh lại ngay:
- Đi chỗ khác.
- Ông đang làm gì vậy?
- Thả tự do cho một sinh vật khốn khổ. Không bao giờ ta giam *** thú hoang dã trong
chuồng như thế này. Đây không phải là người, ta thả nó về rừng. Dù đã báo cảnh sát - họ sẽ đến đây sáng sớm mai - nhưng ta quyết định làm chuyện nhỏ này trước đã.
- Ông điên à? Không thể làm vậy. Nó hung dữ lắm. Thả ra, nó sẽ giết ráo từ người tới vật trong vòng năm cây số.
- Đó là mày nói thôi. Ta không tin. Theo kinh nghiệm của ta, loài vật phản ứng tuỳ vào hành động cư xử của con người. Nếu mi cư xử với nó như một quái vật điên khùng, nó sẽ phản ứng lại y như vậy. Trái lại, nếu tôn trọng, yêu thương, tỏ lòng nhân đạo...
- Ông không biết mình đang làm gì đâu. Người-sói không giống như những loài thú khác. Ông
đi đi, trước khi gây ra những tai hoạ không lường được. Chúng ta sẽ nói chuyện này sau...
- Không. Ta nói đủ rồi.
Gầm lên, ông ta thò tay vào chuồng kéo ra sợi xích. Người-sói lẳng lặng nhìn. Tôi thất thanh giọng thét lên:
- Ngừng lại, R.C.
Nhào tới, tôi ôm chặt R.C cố ngăn ông ta mở cửa chuồng. Không kéo nổi, tôi thoi liên tiếp vào mạn sườn ông ta, nhưng R.C cũng hết sức bình sinh nắm chặt sợi xích.
R.C gầm thét:
- Buông ta ra. Mi không ngăn cản được ta làm bổn phận đâu. Công lý phải được thi hành. Nạn nhân phải được tự do...
Thình lình ông ta nín bặt, da trắng như người chết, toàn thân run bần bật rồi... cứng đờ.
Tiếng răng rắc, rào rạo vang lên. Tôi nhìn vào chuồng. Người-sói đã ra tay! Nó đã ngoạm đứt hai cánh tay R.C tới khuỷ.
Ông ta bật ra khỏi chuồng, đưa hai cánh tay cụt ngủn lên, trợn trừng nhìn máu ròng ròng
chảy.
Tôi cố kéo hai tay R.C khỏi miệng Người-sói (nếu lấy lại được, có thể người trong đoàn sẽ gắn lại được cho ông ta). Nhưng Người-sói nhảy thoắt ra sau, nhai rau ráu. Chỉ một thoáng hai tay của R.C đã nát vụn.
Ông ta cứ ngơ ngác hỏi:
- Tay tôi đâu? Tay tôi đâu? Mới tức thì đây thôi, tôi còn đủ hai tay mà. Máu ở đâu ra mà nhiều thế này?
- Tôi đưa ông đi băng bó, đừng để máu ra nhiều quá.
- Cút đi. Tránh xa ta ra.
Đưa tay để xua đuổi tôi, nhưng nhìn hai tay cụt toàn máu, ông ta lại rú lên:
- Tay ta đâu? Đây là lỗi của mày. Mày chặt đứt hai tay tao rồi.
- Không phải tôi đâu, R.C. Người-sói đã cắn ông.
- Mày, chính mày. Đồ quỷ nhỏ. Quái vật. Mày lấy tay tao. Trả tay cho tao.
Tôi tiến lại gần, nhưng bị ông ta xô ra, rồi quay đầu chạy. Hai cánh tay cụt, ròng ròng máu, đưa cao khỏi đầu; tiếng gào thét của ông lồng lộn khắp khu trại, cho đến khi ông khuất vào đêm tối. Sợ ông tấn công, tôi không dám đuổi theo. Vừa định đi tìm ông Cao và Crepsley báo lại sự việc, bỗng một tiếng gầm ngay sau lưng làm tôi đứng chết sững.
Từ từ quay lại, tôi thấy Người-sói đứng bên cửa lồng khép hờ. Nó đã rút tay chân khỏi mấy sợi xích bị R.C cắt đứt.
Người-sói đứng im, nhe hàm răng nhọn hoắt, trắng nhởn. Nhìn quanh, rồi giang hai tay, năm hai bên song sắt, tung mình, phóng thẳng tới tôi.
Nhắm mắt, tôi đành buông xuôi chờ đợi. Tiếng chân nó nặng nề hạ xuống cách tôi chừng
một mét. Nhưng rồi tôi nghe tiếng nó vọt bay qua khỏi đầu tôi. Trong mấy giây khủng khiếp đó, tôi chờ đợi những cái răng nhọn hoắt của nó cắn từ sau gáy và gặm đứt đầu tôi.
Nhưng không có gì xảy ra. Tôi bối rối, chớp mắt, quay lại nhìn: Nó đang đuổi theo một bóng
người chạy thoăn thoắt qua những cái xe. Nó đã bỏ qua tôi, để săn một con mồi ngon lành
hơn.
Thầm cám ơn trời đã giúp tôi thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tôi loạng choạng bước đi.
Bỗng chân đạp phải một vật trên mặt đất, tôi cúi xuống nhặt và lần đầu tiên tôi tự hỏi,
không biết Người-sói đang đuổi theo ai. Đó là một túi xách nhỏ, đựng đầy quần áo. Khi tôi
lật ngược túi, một cái bình nhỏ rớt ra. Tôi nhặt lên, mở nắp: một mùi thơm chan chát của... hành nướng bốc lên.
Tim như ngừng đập, tôi lục lọi tiếp, cầu xin mùi hành nướng không đúng như điều tôi lo sợ. Lời cầu xin của tôi không được đáp trả.
Trên thành túi những chữ viết tay nguệch ngoạc: “Túi này của Sam Grest. Cấm đụng tới.” Sam! Chắc nó đã lẻn vào đây đêm nay, để đi theo chúng tôi.
Người-sói đang đuổi theo Sam!
CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN
Đáng lẽ tôi phải tìm người giúp sức. Đáng lẽ không nên rượt đuổi theo một mình. Nhưng nó đang bám theo Sam. Sam, thằng bạn đã muốn cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với tôi, đã
cứu mạng tôi.
Tôi không còn nghĩ đến bản thân mình, vì Sam đang lâm nguy. Không còn đủ thời gian chạy
đi kêu cứu nữa. Có thể tôi sẽ bị chết, nhưng tôi vẫn phải đuổi theo, cố gắng cứu Sam. Tôi
còn nợ nó.
Ra khỏi khu trại, tôi đã nhận ra bóng Người-sói vừa khuất sau những thân cây. Tôi chạy hết sức mình. Tiếng tru của nó vọng lại. Đó là một điềm lành, như vậy là nó vẫn còn đang rượt theo Sam. Nếu bắt được rồi, nó bận rộn ăn, không tru lên nữa.
Tôi không hiểu vì sao nó vẫn chưa bắt được Sam. Dù chưa bao giờ có dịp được thấy nó chạy
ngoài trời, nhưng tôi tin Người-sói phải chạy rất nhanh. Có lẽ nó chơi trò mèo vờn chuột,
trước khi ăn thịt.
Những vết chân in rõ trên nền đất ẩm, tuy nhiên tôi vẫn có thể lần theo tiếng động. Trong đêm tối tĩnh mịch, chạy trong rừng không thể giấu được tiếng vang.
Sau nhiều phút vừa chạy theo dấu vết vừa nghe ngóng, chân tôi mỏi nhừ, nhưng vẫn ráng sức chạy.
Tôi sắp đặt cách hành động khi gặp nó. Chắc chắn tôi không cách nào đánh lại nó một cách đàng hoàng. Có lẽ tôi phải dùng một vật cứng, choảng ngay đỉnh đầu nó. Nhưng chuyện đó không dễ chút nào. Người-sói rất mạnh, lanh lợi, và có một phần tính người.
Chỉ còn cách duy nhất là tôi nhào vào nộp mạng, có thể nhờ vậy mà Sam chạy thoát.
Nếu vì Sam, tôi phải chết, cũng chẳng sao. Tôi đã từng từ bỏ kiếp người để cứu một người
bạn rồi. Bỏ kiếp sống để cứu mạng một người bạn khác, có gì phải thắc mắc nữa đâu.
Ngoài ra, nếu phải chết, thì đây là một lý do chính đáng. Còn hơn phải luôn bận tâm đến việc uống máu người hay cam chiu chết vì đói.
Mấy phút sau, tôi xông vào một bãi đất trống và nhận ra Sam đã định chạy đến đâu: khu nhà ga cũ bỏ hoang.
Vậy là nó còn rất tỉnh táo. Đây là nơi tốt nhất, nhiều ngóc ngách có thể ẩn náu, nhiều mảnh sắt và thuỷ tinh có thể dùng làm vũ khí. Có thể cả hai chúng tôi sẽ không bị chết. Có thể hai anh em tôi sẽ chiến thắng trận này.
Tôi thấy Người-sói đang đứng giữa sân ga, hít thở. Nó lại tru lên, một tiếng tru lớn, kéo dài rợn tóc gáy, rồi tiến tới một toa tàu mục nát.
Tôi chạy vòng ra sau toa, ráng không gây tiếng động. Đứng lẳng lặng nghe: hoàn toàn yên
tĩnh. Tôi đu người, nhìn qua cửa sổ: không có ai. Nhẹ nhàng trườn đến cửa sổ thứ ba, nhưng tôi vẫn không tìm thấy gì.
Nhưng tới ô cửa tiếp theo, thấp thoáng một thanh sắt bay vù sát mặt tôi. Tôi vừa kịp xoay mình, né tránh.
Tôi kêu lên nho nhỏ:
- Sam, đừng, mình đây.
Tôi buông mình nhảy xuống đất. Sam ló ra từ một ô cửa tròn:
- Darren, cậu làm gì ở đây vậy? Tưởng Người-sói, mình suýt giết lầm cậu. Xin lỗi nghe.
- Trời đất! Đừng mất thời giờ nữa Sam. Chúng mình chuồn khỏi đây ngay.
Sam biến vào toan, có tiếng sột soạt, rồi nó xuất hiện ngay cửa lên xuống. Nhìn quanh, không thấy Người-sói, nó mới nhảy xuống đất, rồi rón rén lại gần tôi, thì thầm:
- Nó đâu?
- Không biết. Nhưng chỉ quanh quẩn gần đâu thôi, mình thấy nó chạy về hướng này.
- Hay nó vớ được một con mồi khác rồi. Một con bò chẳng hạn.
Chúng tôi đứng sát nhau. Sam quan phát bên phải, tôi bên trái. Cả hai đều run bần bật. Sam
hỏi:
- Bây giờ phải làm gì?
- Không biết. Cậu có ý kiến gì không?
- Chúng minh dụ nó tới khu nhà bảo vệ. Có thể nó sẽ lộn cổ xuống từ những sàn gác mục
nát.
- Nhưng nếu chính chúng ta lộn cổ xuống, nó sẽ nhảy xuống ăn thịt chúng ta ngay.
- Hay... mình bẫy nó bằng mấy cái đòn tay? Chúng ta bò ra giữa, dựa lưng vào nhau, nắm chắc thân đòn. Nếu nó tấn công, mình đánh lại bằng gậy. Kéo dài thời gian cho đến khi có người trong đoàn ra tiếp cứu.
- Nhưng nếu nó bẻ gãy một đầu đòn tay là chúng ta sẽ nhào xuống hết.
- Những xà ngang đó ráp sâu vào trong tường, dễ gì bẻ gãy bằng tay.
- Chẳng biết một cây xà có chịu nổi sức nặng của hai đứa mình và nó không?
- Không chắc. Nhưng biết đâu mình lại gặp may. Hai đứa mình ngã đè lên, làm nó bẹp dí như đống giẻ rách vậy.
Tôi cười như mếu:
- Cậu xem nhiều phim hoạt hình quá đấy. Nhưng ý đó cũng hay. Tớ dở òm, chẳng nghĩ ra được cách nào để lừa nó.
- Cậu nghĩ chừng bao lâu người trong đoàn sẽ đến đây?
- Còn tuỳ khi nào họ phát hiện ra chuyện này. Nếu chúng ta may mắn, họ nghe tiếng tru của nó, sẽ đến đây trong vài phút. Nếu không, phải chờ tới sau buổi diễn.
- Cậu có vũ khí không?
- Mình không kịp mang theo thứ gì cả.
- Đây, có còn hơn không.
Nó đưa cho tôi một thanh sắt ngắn. Tôi hỏi:
- Cậu có thấy dấu vết nào của Người-sói không?
- Chưa.
- Chúng mình nên ra khỏi đây trước khi nó tới. Làm sao tới được nhà bảo vệ xa thế kia? Người-sói có thể đang rình rập dọc đường đi.
- Chạy hết sức và hy vọng thôi.
- Chúng mình tách ra làm hai chứ?
- Không. Cùng chạy.
- Đồng ý. Sẵn sàng chưa?
- Cho mình mấy giây nữa đã.
Tôi quay lại. Nó đang hít thở, mặt trắng nhợt, quần áo tả tơi vì mới chạy qua rừng, nhưng vẻ quyết tâm, sẵn sàng hành động. Tôi nhẹ nhàng hỏi:
- Vì sao cậu trở lại?
- Mình gia nhập gánh xiếc.
- Kể cả sau khi mình nói hết mọi chuyện với cậu?
- Mình quyết tâm phải liều, vì cậu là bạn mình. Chúng mình phải luôn bên nhau đúng không? Chuyện của cậu càng làm mình thêm quyết tâm hơn. Mình phải ở gần để giúp cậu. Mình đã đọc nhiều sách về sự rối loạn nhân cách, có thể mình sẽ điều trị được cho cậu.
Tôi không thể nén nụ cười:
- Cậu là một thằng đần, Sam Grest.
- Tớ biết. Cậu cũng là một thằng đần. Vì vậy tụi mình mới kết nhau. Nó cũng nhoẻn cười. Tôi bảo:
- Nếu chúng mình thoát khỏi chuyện này. Cậu cứ thoải mái vào gánh xiếc. Đừng lo, tớ không ăn thịt đâu. Chuyện đó chỉ để hù doạ cậu thôi.
- Thật hả?
- Thật mà.
- Phù. Bây giờ mình mới thấy khoẻ.
- Chưa. Thoát khỏi Người-sói đã. Sẵn sàng chưa?
- Sẵn sàng. Đếm tới ba nghe.
- Ok.
Nó đếm:
- Một.
Chúng tôi hướng về khu nhà bảo vệ.
- Hai.
Chúng tôi rướn người vào thế chạy.
- B...
Nó chưa kịp đếm, hai bàn tay lông lá phóng ra từ dưới gầm toa, đó là nơi - tôi phát hiện quá muộn - Người-sói ẩn núp.
Những ngón tay bám chặt hai đầu gối của Sam, kéo nó ngã xuống đất.
CHƯƠNG BA MƯƠI
Sam gào lên khi bị những ngón tay bám chặt đầu gối. Cú ngã làm nó nín thở, chỉ vài giây sau khi nó gào thét tiếp.
Tôi quỳ xuống ôm hai cánh tay Sam kéo mạnh.
Dưới gầm xe, Người-sói ưỡn cái bụng đầy lông, nhe răng cười man rợ. Nước dãi nhễu xuống hàm.
Tôi ráng sức kéo. Sam dạt về phía tôi, nhưng Người-sói không hề lỏng tay đang nắm chân Sam, nó vặn mình, trượt khỏi gầm toa.
Tôi buông Sam, quơ một cây sắt dài, đứng bật dậy, đập tới tấp lên hai cánh tay Người-sói. Nó tức giận, điên cuồng tru lên.
Buông một tay khỏi Sam, Người-sói cố vồ tôi. Tôi nhảy tránh, rồi bổ cây sắt lên cánh tay nó vẫn đang ghì chặt Sam. Rú lên đau đớn, nó nới lỏng mấy ngón tay.
Tôi gào lên:
- Chạy!
Chúng tôi, sát bên nhau, chạy về nhà bảo vệ. Tôi nghe tiếng Người-sói hậm hực bò thẳng ra khỏi gầm toa. Nó thật sự tức giận như điên, không còn chờn vờn đùa giỡn như lúc trước nữa. Nó sẽ túm chúng tôi bằng mọi giá.
Sân ga quá lớn, chỉ tới nửa sân, nó sẽ bắt được chúng tôi. Thở hồng hộc tôi bảo Sam:
Hành động của tôi làm nó kinh ngạc. Nó nhào vào tôi với cả tấm thân nặng nềm, lông lá,
đẫm mồ hồi. Cú va chạm mạnh làm cả tôi và nó lăn đùng trên đất, nhưng tôi vội vàng phang cây gậy sắt lên nó.
Người-sói tức giận gầm thét, đập mạnh lên vai tôi. Cánh tay tôi đau buốt đến tê dại làm rơi thanh sắt. Tôi vươn tay trái để nhặt thanh sắt lên. Nhưng Người-sói nhanh hơn, nó quơ thanh sắt, ném thật xa vào bóng tối.
Nó đứng nhìn tôi, nhe răng cười. Nhìn đôi mắt nó, tôi biết, nếu nói được, nó sẽ bảo: “Darren Shan, bây giờ ngươi thuộc về ta. Chơi đùa thoả thích rồi, giờ là lúc mi phải chết.”
Nó nắm lấy tôi, mồm há toang hoác, cúi thấp để cắn lên mặt tôi. Hơi thở nó tanh tưởi vô cùng, trong những kẽ răng vàng khè còn dính thịt và vải áo của R.C.
Bỗng hàm nó đờ ra. Một vật vừa phang mạnh bên thái dương, làm nó lảo đảo. Tôi thấy Sam đang đập nó bằng thanh gỗ lớn. Vừa đập nó vừa nói:
- Cho mày biết thế nào là lễ độ. Buông Darren ra, nếu không...
Tôi không nghe hết được câu nói của Sam, vì tôi vừa xông tới, Người-sói vung đại một quả đấm, nhưng trúng ngay mặt tôi. Cú đấm như trời giáng làm đầu tôi như nổ tung, trước mặt tôi cả ngàn ngôi sao khổng lồ chói chang màu sắc. Tôi ngã xuống, ngất đi.
Tôi không biết mình đã ngất đi bao lâu, nhưng khi tỉnh lại: sân ga im ắng đến lạ lùng. Không tiếng ai chạy, kêu gào hay đánh nhau. Tôi chỉ nghe tiếng nhai nhóp nhép ngay gần đó.
Nhóp nhép. Nhóp nhép.
Không còn nghĩ đến đầu nhức như búa bổ, tôi cố ngồi dậy.
Mấy mấy giây tôi mới quen lại với bóng tối và nhận ra Người-sói đang phủ phục, đầu cúi trên một vật gì đó. Chính nó đang nhai nhóp nhép.
Cảm giác choáng váng làm tôi phải một lúc sau mới nhận ra: “vật gì đó” Người-sói đang nhai chính là... một con người.
SAM!!!
Tôi bật dậy, phóng tới. Nhưng vừa thoáng thấy đống máu thịt bầy nhầy, tôi biết ngay là đã quá muộn rồi.
- K... H... Ô... N... G!
Tôi gào lên, rồi như người mất trí, thoi lia lịa vào con quái vật bằng tay trái.
Nó gầm gừ, xô tôi ra. Tôi đấm, đá không ngừng. Nó lại xô tôi. Tôi giật tai, giật lông nó.
Người-sói ngửa mặt tru lên. Miệng nó hoăm hoắm đỏ lòm, còn dính những mảnh thịt xương.
Nó lăn lên tôi, đè tôi xuống bằng cánh tay toàn lông gớm ghiếc. Đầu ngả ra sau, nó ngó lên
trời đêm, cất tiếng tru. Rồi, với một tiếng gừ gừ ma quái, răng nó kề sát họng tôi. Người-sói sắp kết liễu mạng tôi bằng một cú ngoạm chớp nhoáng.
CHƯƠNG BA MƯƠI MỐT
Giữa lúc không ngờ nhất, hai bàn tay xuất hiện từ bóng tối, nắm chặt hàm nó, bẻ đầu nó sang một bên.
Người đó leo lên lưng Người-sói, ghì nó xuống. Những cú đấm lẹ hơn tia chớp, tới tấp giáng lên đầu nó. Người-sói nằm mê man trên mặt đất.
Tôi ngước nhìn, khi người người đó đứng dậy: Mặt ông Crepsley đỏ bừng, hoảng hốt.
Ông vừa thở dồn dập vừa nhẹ nhàng quay đầu tôi từ phải qua trái để kiểm tra vết thương:
- Evra nghe tiếng Người-sói tru. Nó cứ ngỡ Người-sói xổ chuồng, không ngờ có cả cháu và cậu bé kia. Sau khi biết chuyện xảy ra, ông Cao đã cắt ngang buổi biểu diễn và huỷ bỏ bữa tiệc định tổ chức. Rồi, thấy giường cháu bỏ trống, ta chợt nhớ tới cháu. Tìm các nơi, ta phát hiện thấy những dấu vết trên đường.
Toàn thân tôi trầy trụa, cổ họng tôi khô cứng tưởng như không thốt nổi nên lời. Tôi nói như
rên:
- Cháu... đinh ninh... là chết. Tưởng không ai tới kịp.
Choàng cánh tay không đau, tôi ôm chặt ông Crepsley, nức nở:
- Cám ơn, cám ơn, cám ơn ông nhiều lắm.
Rồi buông ông ra, tôi chạy lại chỗ Sam nằm, gào lên:
- Sam ơi!
Người-sói đã mở banh lồng bụng Sam và ăn gần hết nội tạng. Kỳ lạ là Sam vẫn còn sống. Mi mắt nó lay động và hơi thở con thoi thóp.
- Sam ơi, cậu không sao chứ?
Tôi lại kêu tên và vuốt ve trán nó. Nó không tỏ ra nghe thấy hay cảm thấy có tôi bên cạnh. Từ ngực trở lên, trông nó thật êm đềm, bình thản.
Ông Crepsley quỳ xuống bên tôi, kiểm tra thân thể nó.Tôi hỏi:
- Ông có cách nào cứu được nó không?
Ông buồn bã lắc đầu. Tôi hét lên:
- Phải có cách chứ. Ông khép vết thương nó lại, cho nó thứ thuốc, gọi bác sĩ. Chắc chắn phải có cách chứ.
Ông Crepsley nhẹ nhàng nói:
- Darren, chúng ta không thể làm gì được nữa. Sam sắp chết rồi. Vết thương quá lớn. Ít ra, nó đã mất hết cảm giác, không phải chịu đựng đau đớn.
- Không! Trời ơi!
Tôi đau đớn, khóc như không thể nào nín được.
- Sam! Cậu không thể chết. Sống lại đi, Sam ơi! Vào gánh xiếc, đi khắp thế giới với mình. Cậu có thể...
Nghẹn ngào không nói được thành lời, tôi ôm lấy Sam mà khóc.
Trong sân ga hoang vắng, sau tôi Người-sói vẫn nằm bất tỉnh, bên tôi ông Crepsley ngồi lặng lẽ, dưới chân tôi Sam Grest - người bạn đã cứu mạng tôi - hoàn toàn câm nín và đang chìm dần, chìm dần vào giấc ngủ muôn đời, vào cõi chết hãi hùng miên viễn.
CHƯƠNG BA MƯƠI HAI
Cảm thấy một cái chạm nhẹn vào cánh tay áo trái, tôi nhìn sang: trông ông Crepsley rất khổ tâm khi nói:
- Darren, thật không phải lúc, nhưng có điều cháu nên làm ngay bây giờ. Vì Sam và vì cả
chính cháu.
Tôi lau nước mắt, hỏi:
- Sao, chúng ta có thể cứu cậu ấy? Ông nói đi, bất cứ điều gì, cháu cũng sẽ làm.
- Chúng ta không còn có thể làm gì để cứu phần xác của Sam nữa. Nhưng chúng ta có thể cứu phần hồn của nó. Darren, cháu phải uống máu của Sam.
- Làm sao ông có thể thốt lên lời đó? Người bạn thân nhất của cháu đang hấp hối, mà ông
chỉ có thể nghĩ đến chuyện... Ông là một quái vật bệnh hoạn. Đáng lẽ ra ông phải chết, thay vì Sam. Tôi ghét ông. Ông đi đi.
- Cháu không hiểu rồi.
- Tôi hiểu quá đi chứ. Sam sắp chết, nhưng ông chỉ nghĩ đến một điều xấu xa như vậy. Ông biết ông là gì không? Là một...
- Cháu có nhớ lần chúng ta bàn luận về chuyện ma-cà-rồng có khả năng hấp thu một phần
hồn của con người không? Sam sắp chết. Chỉ vài phút nữa nó sẽ ra đi mãi mãi. Nhưng một
phần của nó sẽ còn sống trong cháu, nếu cháu lưu giữ máu của Sam trong cơ thể mình.
Không thể tin nổi tai mình nữa, tôi gào lên:
- Ông muốn tôi giết chết Sam ư? Crepsley thở dài:
- Không đâu. Sam đã bị giết rồi. Nhưng nếu cháu giải thoát cho nó, trước khi nó chết hẳn vì vết thương gây ra bởi Người-sói, cháu sẽ lưu lại tư tưởng, cảm xúc của nó. Trong cháu, Sam tiếp tục sống.
Nhìn thân hình nhỏ nhoi, tội nghiệp của bạn, tôi lắc đầu thì thầm:
- Tôi không thể làm thế được.
- Ta không ép cháu. Nhưng hãy nghĩ kỹ đi. Chuyện xảy ra đêm này là một bi kịch sẽ còn ám ảnh cháu lâu dài, nhưng nếu cháu hấp thu một phần tinh tuý của Sam, việc chấp nhận cái chết của nó sẽ dễ dàng hơn. Mất một người thân yêu là bất hạnh. Bằng cách này, cháu sẽ không mất Sam hoàn toàn.
Tôi nức nở khóc:
- Trời ơi! Không làm thế được. Nó là bạn tôi. Vì nó là bạn cháu, nên cháu phải làm.
Nói xong, ông Crepsley bỏ đi, để tôi tự quyết định.
Tôi nhìn Sam bất động, nhớ lại những trò tinh nghịch, những lời nói dài dòng như ông cụ non, những hy vọng, ước mơ của nó. Khủng khiếp làm sao, nếu tất cả những điều đó đều tan biến theo cái chết của nó.
Quỳ xuống, đặt mấy ngón tay lên cổ Sam, tôi tha thiết nói:
- Tha thứ cho mình, Sam ơi!
Dòng máu của Sam lưu chuyển trong tôi nóng hổi. Giống như Người-sói đã làm, tôi ngửa
mặt trông trời đêm, tru lên một tiếng dài dằng dặc. Rồi tôi kêu gào, khóc lóc như một con
thú hoang.
CHƯƠNG BA MƯƠI BA
Một lát sau, ông Cao cùng một số đông người trong đoàn, kể cả bốn tên trong đám Tí-hon, lũ lượt kéo tới. Tôi ngồi bên Sam, mệt lả người, thẫn thờ nhìn khoảng không.
Ông Cao hỏi Crepsley:
- Chuyện gì vậy? Tại sao Người-sói thoát ra ngoài được?
- Tôi chưa hỏi. Darren còn quá mệt và xúc động.
- Người-sói chết rồi sao?
- Không. Tôi chỉ đánh cho nó ngất đi thôi.
Ông Cao thở dài, búng ngón tay. Bốn tên Tí-hon trói Người-sói, rồi khiêng lên một xe tải.
Tôi muốn đưa ra đề nghị xử tử Người-sói, nhưng như thế phỏng ích gì? Nó không độc ác, chỉ là bản năng hoang dại tự nhiên.
Mấy tên Tí-hon trở lại, cúi xuống xác Sam. Tôi kêu lên:
- Khoan đã. Chúng định làm gì?
Ông Cao khúng khắng ho, bối rối nói:
- À... à… chúng định dọn dẹp đấy mà.
Mất một lúc, tôi mới hiểu “dọn dẹp” là gì. Tôi rùng mình hỏi:
- Chúng định... ăn thịt Sam?
Ông Cao lý luận:
- Chúng ta không thể bỏ Sam lại đây như thế này. Chôn thì không có thời gian, tiện nhất là...
- Không được!
Tôi hét lên. Ông Crepsley nói:
- Darren, cháu không nên can thiệp vào...
Tôi vùng lên, cố xô đẩy bốn tên Tí-hon:
- Nếu chúng muốn ăn Sam, hãy để chúng ăn thịt tôi trước đã. Tôi không cho phép chúng đụng tới Sam. Sam phải được chôn cất đàng hoàng.
Những con mắt xanh lè, đói khát của chúng hau háu nhìn tôi. Ông Cao thản nhiên lên tiếng:
- Để làm mồi cho dòi bọ sao?
Ông Crepsley ôn tồn nói:
- Hãy để thằng bé làm theo ý nó. Ông và tất cả nên về trước đi. Tôi ở lại đây giúp nó một
tay.
Khi tất cả trở lại trại. Ông Crepsley ngồi xuống bên tôi, hỏi:
- Cháu sao rồi? Có cảm thấy khoẻ hơn không?
Tôi gật. Rõ ràng trong tôi có nhiều đổi khác : thị giác, thính giác đều mạnh hơn. Vai và cánh tay không còn đau nhức nữa.
Ông Crepsley bảo:
- Một thời gian rất lâu nữa, cháu mới lại cần...
- Cháu làm thế là vì Sam, không phải vì lý do sức khoẻ của mình.
- Cháu có giận ta không?
Tôi thở dài lắc đầu. Ông ta lại nói:
- Darren, ta mong là...
- Cháu không muốn nói tới chuyện đó nữa. Cháu đang lạnh lẽo, đau khổ và rất cô đơn. Cháu cần được yên tĩnh để nghĩ về Sam thôi.
- Tuỳ cháu.
Ông nói rồi bắt đầu đào đất bằng những ngón tay. Tôi phụ ông một lúc rồi ngừng lại, hỏi:
- Bây giờ cháu thật sự là một phụ tá ma-cà-rồng rồi phải không?
Ông buồn bã gật đầu. Tôi hỏi:
- Điều đó làm ông mừng không?
- Không. Nó làm ta xấu hổ.
Tôi ngạc nhiên nhìn lên ông Crepsley, bỗng bối rối khi một tên Tí-hon xuất hiện sau ông ta. Đó là tên vẫn đi khập khiễng. Đưa lên nắm đấm, tôi cảnh cáo:
- Nếu mi định cướp xác Sam, ta sẽ...
Tôi chưa kịp dứt lời, nó đã nhảy xuống hố, xoè những ngón tay dài, xám ngoét, thọc sâu vào
đất.
Tôi kinh ngạc hỏi:
- Hình như nó muốn giúp chúng ta?
- Có thể. Cháu nghỉ đi. Ta và nó đào sẽ nhanh hơn.
Tôi bò lên, nằm sóng soài trên đất. Một lát sau, tôi lững thững đến một góc tối trong sân ga ngồi chờ. Tôi muốn ngồi một mình để nghĩ về Sam.
CHƯƠNG BA MƯƠI BỐN
Chúng tôi chôn Sam thật đơn giản, không ngụy trang để cảnh sát và gia đình nó dễ tìm ra. Như vậy Sam sẽ mau chóng có được nấm mộ đàng hoàng.
Gánh xiếc nhổ trại trước rạng đông. Vụ Sam mất tích sẽ tạo ra rất nhiều rắc rối, chúng tôi phải đi khỏi đây càng sớm, càng xa càng tốt.
Tôi áy náy nghĩ đến R.C. Ông ta có kịp đến bác sĩ không? Hay đã chết rồi?
Mặc dù ông ta muốn làm điều tốt, nhưng không vì sai lầm của ông ta thì Sam của tôi vẫn còn
sống.
Trên đường di chuyển, Evra ngồi cùng tôi, đằng sau xe tải. Nó ngập ngừng đặt một túi xách lên đùi tôi, nói:
- Mình nghĩ cậu muốn giữ cái này.
Nhìn dòng chữ “ Sam Grest” trên túi, tôi ứa nước mắt, lặng lẽ khóc. Evra choàng tay ôm tôi và khóc cùng tôi. Nó nức nở nói:
- Ông Crepsley đã kể hết với mình. Ông ấy bảo, cậu làm điều đó chỉ vì muốn lưu giữ tinh thần Sam sống mãi trong cậu.
Tôi yếu ớt trả lời:
- Đúng vậy.
- Mình biết cậu ghê tởm chuyện đó đến thế nào, nhưng cậu đã làm, chỉ vì Sam. Đó không phải là một tội ác, trái lại đó là lòng thiện. Cậu đừng ân hận nữa.
Suốt chuyến đi, tim tôi như thắt lại. Cứ nghĩ đến Sam nằm đó một mình, tôi không thể nào ngừng khóc được.
Đêm xuống, chúng tôi nghỉ lại dọc đường. Evra đi lấy đồ ăn và giải khát. Nó hỏi tôi:
- Cậu ăn gì?
- Không. Cám ơn. Mình không đói.
Nhưng nó vừa quay đi, tôi gọi theo:
- Khoan đã.
Một vị rất lạ trong miệng tôi. Tôi cảm thấy thèm thuồng một thứ mà tôi chưa từng thèm
bao giờ. Ngẩn ra suy nghĩ chẳng biết mình đang thèm món gì. Bỗng tôi lục trong túi xách của Sam. Nhưng không thấy chiếc bình nhỏ.
Nhìn Evra, tôi liếm môi, rồi hỏi nó bằng một giọng nghe rất quen, giọng của một chú nhóc -
lanh lợi, láu lỉnh, tò mò - đã có lần tôi từng quen biết.